Home các số BT Công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh vật biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh vật biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

1. Tổng quan về đa dạng sinh học biển tỉnh Khánh Hòa

Theo các nghiên cứu đánh giá vùng biển Khánh Hòa có khoảng 600 loài cá, tôm… khác nhau trong đó có trên 50 loài có giá trị kinh tế, trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hoà ước khoảng 116 nghìn tấn, khả năng khai thác cho phép hàng năm khoảng 70-80 nghìn tấn/năm. Nguồn lợi biển phân bố không đều, tập trung phần lớn ở ngư trường ngoài khơi, vì vậy khai thác hiệu quả cần có tàu lớn, có phương tiện bảo quản để sản xuất dài ngày. Đặc biệt, việc khai thác ngư trường quanh quần đảo Trường Sa, vừa nhằm mục đích phát triển kinh tế, vừa góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng của tỉnh.

Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Khánh Hoà còn là nơi trú ngụ của loài chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào, không chỉ góp phần cho xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp.

Do đặc điểm địa hình nên tính đa dạng về sinh học biển ở Khánh Hòa rất cao. Ở các vùng triều, đất ngập nước có rất nhiều hệ sinh thái biển, nhiều giống, loài đặc trưng của vùng biển nhiệt đới. Theo các nghiên cứu tỉnh Khánh Hòa có ba hệ sinh thái biển đặc trưng nhất: là hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái cỏ biển. Ngoài còn có các hệ sinh thái biển khác như: hệ sinh thái cồn cát ven bờ, hệ sinh thái vùng cửa sông, hệ sinh thái bãi triều… với nhiều loài động, thực vật sinh sống và là nguồn lợi cho cộng đồng các địa phương ven biển ở Khánh Hòa.

2. Công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh vật biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Công tác bảo tồn đa dạng sinh vật biển được lồng ghép trong công tác quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo của tỉnh Khánh Hòa và thực thi theo quy định của Luật Biển Việt Nam số 18/2012/QH13, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13, Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 và các văn bản dưới luật nhằm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh, các nội dung đã triển khai cụ thể như sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các Quyết định số 2732/QĐ-UBND ngày 15/9/2016 về Kế hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 2857/QĐ-UBND ngày 11/11/2013 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 201/QĐ-UBND ngày 21/10/2016 về việc cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch hành động về bảo vệ đa dạng sinh học, an toàn sinh học đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh tại Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 và Quyết định số 1911/QĐ-UBND ngày 04/7/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa.

Hằng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường luôn bố trí kinh phí để thực hiện việc quan trắc định kỳ chất lượng nước, môi trường nước biển, trầm tích tại các khu vực biển ven bờ, cụ thể: 18 trạm quan trắc nước biển ven bờ với tần suất 12 lần/năm; 6 trạm quan trắc trầm tích đáy với tần suất 2 lần/năm. Đối với việc quan trắc, đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái biển đặc trưng như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn được tiến hành với tần suất 2 năm/lần với các thông số về diện tích, độ phủ, thành phần loài. Việc quan trắc định kỳ chất lượng nước biển, trầm tích ven bờ và tính đa dạng của các hệ sinh thái biển nhằm đánh giá diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường vùng ven biển.

Về công tác bảo tồn cảnh quan, bảo tồn sinh vật biển: hiện nay trên địa bàn tỉnh có 01 Khu bảo tồn biển cấp tỉnh (vịnh Nha Trang), 01 Khu bảo vệ Hệ sinh thái biển cấp huyện (Rạn Trào) và các mô hình quản lý tài nguyên môi trường biển dựa vào cộng đồng được thành lập dựa vào việc triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, khoa học (bảo vệ thảm cỏ biển ở Đầm Thủy Triều) hay thực hiện các Hợp phần của dự án Quy hoạch không gian ven bờ vì sự phát triển bền vững ở Khánh Hòa (khu bảo vệ biển Đầm Nha Phu).

Ngoài ra, đối với công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh vật biển: Hằng năm, Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo tuyên truyền bảo tồn đa dạng sinh vật biển lồng ghép trong việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về biển, khai thác thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, cụ thể như sau: Phối hợp với Đài phát thanh truyền hình Khánh Hòa và các phương tiện thông tin đại chúng địa phương tăng thời lượng phát sóng về những lợi ích của việc khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, vị trí tầm quan trọng của biển; Lồng ghép và tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao ý thức người dân về biển, về sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thông qua các sự kiện như Ngày Môi trường thế giới, Ngày đại dương thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hàng năm, Ngày Quốc tế đa dạng sinh học (22/5) (trồng rừng ngập mặn, thả sinh vật biển tái tạo nguồn lợi, dọn dẹp vệ sinh bờ biển, lặn bắt sao biển gai, các Hội nghị, lớp Tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức),…

3. Một số khó khăn, hạn chế và kiến nghị, đề xuất 

Trong những năm gần đây, nguồn lợi thủy sản cũng như diện tích các hệ sinh thái biển đang có xu hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Nguyên nhân là do hoạt động khai thác quá mức với các hình thức hủy diệt, tận thu (giã cào) và hoạt động phát triển hạ tầng kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng đất (xây dựng khu du lịch-giải trí, khu nuôi trồng thủy sản, khu dân cư).

Hoạt động Ban quản lý các khu bảo tồn biển trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự; đặc biệt là các mô hình do địa phương quản lý, mô hình quản lý tài nguyên môi trường biển dựa vào cộng đồng chưa được sự quan tâm của các cấp, các ngành và nguồn kinh phí hạn chế nên việc triển khai kế hoạch quản lý các mô hình quản lý tài nguyên môi trường biển chưa thực hiện đồng bộ.

Việc triển khai các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học theo Kế hoạch còn khó khăn do nhiều nguyên nhân: chưa có cán bộ có chuyên môn sâu và chuyên trách về quản lý đa dạng sinh học; nguồn kinh phí cho các hoạt động điều tra, khảo sát, bảo tồn đa dạng sinh học biển tương đối lớn nên ngân sách địa phương chỉ đáp ứng được một phần. Công tác tuyên truyền về đa dạng sinh học biển còn hạn chế, chưa chú trọng nhiều đến đối tượng cộng đồng; Sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo còn mang tính hình thức, phong trào, chưa tạo được thói quen, các mô hình cộng đồng quản lý môi trường biển và hải đảo chưa nhiều, chưa bền vững.

Để thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn sinh vật biển và nghiên cứu khoa học biển, cần xem xét thực hiện các đề xuất sau:

Kêu gọi đầu tư, hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức trong và ngoài nước về kinh phí, cơ sở vật chất, xây dựng chính sách thể chế, cung cấp, đào tạo chuyên gia triển khai các nhiệm vụ/đề tài phục hồi các hệ sinh thái biển; Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới xây dựng các mô hình bảo vệ phục hồi các hệ sinh thái, các loài đặc hữu quý hiếm; Điều tra tài nguyên và môi trường biển xung quanh các đảo, quần đảo (các đảo không có người sinh sống và các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa); Lập hồ sơ tài nguyên môi trường hải đảo ven bờ; Điều tra, khảo sát địa hình đáy biển;… Gắn hoạt động nghiên cứu bảo vệ đa dạng sinh học biển với các dự án phát triển du lịch, nâng cao thu nhập cho các tổ chức, cộng đồng, doanh nghiệp; tập trung hoạt động bảo tồn phát triển hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn theo hướng bền vững.

Nguyễn Đình Tường

Nguồn: Theo Công văn số 1859/STNMT-CCBHĐ  ngày 08/5/2018 của Sở TN&MT

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa