Home các số BT Hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 khẳng định cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển một các đầy đủ làm cơ sở cho việc xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển, đảo.

Mở đầu của hệ thống pháp luật về biển là việc ra đời Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo phương thức quản lý tổng hợp dựa trên cách tiếp cận hệ sinh thái. Để triển khai thi hành Nghị định này, đã có 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 01 Thông tư liên tịch và 15 Thông tư được ban hành. Đến năm 2015, Quốc hội đã thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Để thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Chính phủ  cũng đã ban hành 02 Nghị định và 02 Quyết định; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 08 Thông tư hướng dẫn thi hành

Qua 10 năm thực hiện, hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đã được xây dựng, ban hành, từng bước hoàn chỉnh, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở nước ta. Triển khai thực hiện tốt phương thức quản lý tổng hợp với các công cụ, cơ chế, nguyên tắc, quy đinh nêu trên sẽ giúp từng bước khắc phục các xung đột, mâu thuẫn trong quản lý theo ngành, lĩnh vực; sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển và hải đảo để phục vụ phát triển bền vững biển và hải đảo.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi nhanh chóng tác động không nhỏ tới Biển Đông. Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu và đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có các vấn đề về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Do đó cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các điều ước, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, phục vụ xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia.

Để hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo cần chú trọng một số nội dung sau:

- Trước mắt, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách, văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Kịp thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật đối với nội dung liên quan đến quy hoạch. Hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP theo hướng bao quát các trường hợp sử dụng khu vực biển; phân cấp, mở rộng thẩm quyền giao khu vực biển cho địa phương; quy định cụ thể các quyền của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển… Xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về nhận chìm ở biển; ứng phó sự cố môi trường biển. Xây dựng, ban hành các hướng dẫn, quy định kỹ thuật cụ thể về nhận chìm ở biển, giao khu vực biển, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển.

- Nghiên cứu, xây dựng Luật quản lý sử dụng các khu vực biển nhằm khắc phục tình trình phân tán, thiếu đồng bộ trong các quy định hiện nay để quản lý chặt chẽ, thống nhất các hoạt động sử dụng khu vực biển.

- Quy định về phân định ranh giới hành chính trên biển. Phân định, phân cấp, phân quyền, xác định rõ thẩm quyền, phạm vi của trung ương và địa phương trong quản lý nhà nước về biển, hải đảo phù hợp với các đặc thù trên biển, hải đảo kết hợp với việc thực hiện hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trên nguyên tắc quản lý tổng hợp.

- Nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Xây dựng, cụ thế hóa cơ chế điều phối, phối hợp liên ngành trong quản lý tổng hợp vùng bờ. Ban hành các quy định để kiểm soát chặt chẽ các hoạt động lấn biển. Hoàn thiện quy định về hành lang bảo vệ bờ biển.

- Xây dựng, ban hành các quy định cụ thể để tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, đặc biển là vùng biển ven bờ; kiểm tra, giám sát chặt chẽ nguồn thải từ đất liền ra biển. Quản lý chặt chẽ hoạt động nhận chìm ở biển; quản lý rác thải trên biển. Hoàn thiện các quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố môi trường biển,….

Nguyễn Đình Tường -CCBHĐ

Nguồn: Theo tài liệu Hội thảo quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo – Mười năm nhìn lại

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa