Home các số BT Những thành tựu đạt được sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Những thành tựu đạt được sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Ngày 09/02/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định mục tiêu quốc gia biển phải làm giàu từ biển và đưa nước ta thành quốc gia mạnh về biển. Nghị quyết 09-NQ/TW đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp tổng thể trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế - xã hội; an ninh -quốc phòng; tài nguyên - môi trường; hệ thống - thể chế.

Sau hơn 10 năm Nghị quyết Trung ương 4 về "Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020" ra đời, các cơ quan Trung ương và địa phương đã tổ chức quán triệt và đề ra các giải pháp triển khai thực hiện. Quốc hội đã thông qua các Luật Biển Việt Nam (năm 2012), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (năm 2015), Bộ luật Hàng hải Việt Nam (năm 2015), Luật Thủy sản (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cùng nhiều luật của các ngành, lĩnh vực có nội dung liên quan đến biển, đảo. Chính phủ cũng đã ban hành hơn 10 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hơn 100 Quyết định về quản lý nhà nước, thực hiện các chủ trương chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh biển, đảo. Nghị quyết đã đề ra 5 lĩnh vực ưu tiên phát triển là khai thác, chế biến dầu khí; khai thác và chế biển hải sản; phát triển kinh tế hàng hải; phát triển du lịch và nghỉ dưỡng biển; tăng xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp. Đồng thời, Nghị quyết cũng định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng biển, đảo.

Trong lĩnh vực kinh tế, hơn 10 năm qua, kinh tế biển và ven biển luôn đóng góp hơn 30% vào GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người của người dân ven biển tuy thấp hơn mức trung bình chung của cả nước song không ngừng tăng, đạt mức tăng 4,84 lần trong giai đoạn 2006-2016. Các ngành nghề kinh tế biển mũi nhọn đều đạt được những thành tựu thuyết phục, cụ thể:

Về lĩnh vực du lịch, theo thống kê của Tổng cục Du lịch thì tổng thu trực tiếp từ khách du lịch năm 2017 đạt 510,9 nghìn tỷ đồng. Trong đó doanh thu du lịch của 28 tỉnh, thành phố ven biển chiếm khoảng 70% tổng doanh thu toàn ngành. Kinh tế đảo đã được thúc đẩy phát triển và có triển vọng tăng trưởng tốt. Đến nay, ở hầu hết các huyện đảo đều đã hình thành được các khu, điểm du lịch và tổ chức các hoạt động du lịch thường xuyên đến các điểm đảo. Một số huyện đảo đã và đang trở thành những trung tâm du lịch như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quốc, Côn Đảo, Lý Sơn. Các quy định hỗ trợ phát triển khai thác hải sản giúp giá trị sản lượng khai thác và chế biển hải sản liên tục tăng trong 10 năm qua. Lĩnh vực vận tải biển cũng có bước phát triển đáng kể, cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách ven biển.Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong ASEAN và đứng thứ 30 trên thế giới về năng lực vận tải biển; đứng thứ 64/160 quốc gia về mức độ phát triển của dịch vụ hậu cần.

Về lĩnh vực kinh tế hàng hải đã có bước phát triển đáng kể, giá trị sản lượng của ngành vận tải biển, dịch vụ cảng biển và đóng tàu đã liên tục gia tăng, với tốc độ tăng trong giai đoạn 2007-2010 là 22%/năm, giai đoạn 2011-2015 là 13%/năm. Tuy vậy, tỷ trọng đóng góp chung của kinh tế hàng hải vào GDP cả nước còn rất nhỏ và có xu  hướng giảm, với mức 1,05% vào năm 2010, 0,98% vào năm 2015 và 0,97% vào năm 2017. Đội tàu biển trong nước tính đến hết tháng 11/2017 có tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn, đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 30 trên thế giới. Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển tăng đều theo các năm (năm 2015 đạt 427,3 triệu tấn thì đến năm 2017 đạt khoảng 511,6 triệu tấn). Sau 10 năm thực hiện Chiến lược biển, toàn ngành đã có những nỗ lực rất lớn trong công tác đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ logistics, đảm bảo nhu cầu lưu thông hàng hóa bằng đường biển với mức tăng trưởng hàng hóa hàng năm từ 10-20%. Nhiều cảng biển có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 200.000 tấn.

Khu Kinh tế Vân Phong – Khánh Hòa, một trong 18 khu kinh tế ven biển (Ảnh: Đình Tường)

Đối với lĩnh vực xây dựng các khu kinh tế ven biển, hiện nay có 18 khu kinh tế ven biển đã quy hoạch xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật.Các khu kinh tế thu hút 254 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 42 tỷ USD và 1.079 dự án đầu tư trong nước, với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 805.200 tỷ đồng. Trải qua hơn 10 năm phát triển, các KKT ven biển đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Các dự án sản xuất kinh doanh trong KKT đã lấp đầy 40% tổng diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ trong KKT ven biển. Hiện tại, một số dự án lớn quan trọng tại các KKT đã hoàn thành và đi vào hoạt động như: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; Nhà máy TNHH Công nghiệp nặng Doosan Việt Nam (KKT Dung Quất); Khu công nghiệp cơ khí ô-tô Chu Lai - Trường Hải (KKT mở Chu Lai); các nhà máy xi-măng, nhiệt điện tại KKT Nghi Sơn….

Tuy nhiên, trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thực tiễn triển khai chiến lược biển hơn 10 năm qua cho thấy đôi khi xuất hiện những mâu thuẫn giữa một bên là duy trì môi trường hòa bình để hợp tác và phát triển kinh tế biển với một bên là đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ biển đảo; đòi hỏi sự vận dụng khéo léo các hoạt động đối ngoại để bảo đảm các mục tiêu đã đề ra. Việt Nam đã cơ bản đạt được mục tiêu vừa phục vụ lợi ích phát triển kinh tế biển trên Biển Đông; đồng thời, bảo đảm được lợi ích an ninh và ảnh hưởng căn bản trên Biển Đông trong bối cảnh nguồn lực hạn chế. Điều này có sự góp phần quan trọng của chiến lược và triển khai hoạt động đối ngoại đúng đắn. Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với các nước, đặc biệt các nước lớn và góp phần củng cố đoàn kết trong ASEAN, nêu cao chính nghĩa, tạo thế và lực mới làm nền tảng cho hoạt động bảo vệ và phát triển bền vững trên biển.

Tóm lại, qua hơn 10 năm thực hiện Chiến lược biển, cùng với cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích quốc gia, tuy còn nhiều vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển, nhưng những thành tựu đạt được bước đầu rất quan trọng, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển tiếp theo, đưa nước ta trở thành “quốc gia làm giàu từ biển và mạnh lên từ biển”.

Đồng thời, trong bối cảnh và xu thế hiện nay, khi tình hình trên Biển Đông tiếp tục diễn biến hết sức khó lường và các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt, tư duy biển phải được đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam, lấy hội nhập làm hướng đi chính, lấy xây dựng nội lực làm trung tâm và đặt trong chiến lược bảo đảm an ninh, quốc phòng của Việt Nam trong tình hình mới. Vì vậy để đạt được mục tiêu tổng quát mà chiến lược biển đặt ra, trong thời gian tới ta cần phát huy sức mạnh toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại, biến thách thức thành cơ hội. Vận dụng tối đa luật pháp quốc tế và tranh thủ sự ủng hộ chính nghĩa của các nước trên thế giới để kiên quyết, kiên trì đấu tranh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo bằng các biện pháp hòa bình, tích cực cùng cộng đồng quốc tế giải quyết các thách thức chung. Cần xây dựng chính sách phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, đi đôi với hợp tác bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên và môi trường trên biển.

 Nguyễn Đình Tường -CCBHĐ

Nguồn:Tổng hợp từ cổng thông tin điện tử của Bộ tài nguyên và Môi trường, các báo điện tử

 
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa