Home các số BT Kết quả sơ bộ hoạt động thử nghiệm quản lý hệ sinh thái rạn san hô với sự tham gia của doanh nghiệp trong Vịnh Nha Trang

Kết quả sơ bộ hoạt động thử nghiệm quản lý hệ sinh thái rạn san hô với sự tham gia của doanh nghiệp trong Vịnh Nha Trang

Trong thời gian qua, các hoạt động phát triển kinh tế trong Vịnh Nha Trang, trên các đảo trong vịnh cũng như các hoạt động  du lịch biển ngày càng tăng, hệ sinh thái rạn san hô ở đây đã và đang chịu nhiều áp lực. Mặc dù đã có nhiều biện pháp quản lý được áp dụng, nhiều chương trình kế hoạch phát triển cộng đồng được hỗ trợ, những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy sự thay đổi cấu trúc quần xã theo hướng xấu đi, suy giảm nguồn lợi và các mối đe dọa rạn san hô do hoạt động của con người không giảm, bên cạnh đó các tai biến thiên nhiên gần đây cũng làm trầm trọng thêm tình hình. Vì vậy, tìm kiếm các giải pháp quản lý mới ở những khu vực rạn cụ thể bị suy thoái trong vịnh, góp phần tăng cường áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả, gia tăng đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản, duy trì bền vững các hoạt động dịch vụ  là hết sức cần thiết.

Trong khuôn khổ của đề tài “Nghiên cứu đề xuất một số khu vực có thể phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn san hô phục vụ du lịch sinh thái biển ở Khánh Hoà”,  các nhà khoa học, quản lý đã lựa chọn các khu vực thí điểm xây dựng mô hình phục hồi và tái tạo hệ sinh thái san hô với sự tham gia của doanh nghiệp thông qua các hoạt động như đào tạo nhân lực, thực hành phục hồi và quản lý ở qui mô nhỏ, và đề xuất qui chế quản lý bao gồm trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo tồn hệ sinh thái và sử dụng bền vững tài nguyên theo đúng khái niệm du lịch sinh thái được tiến hành.

Sau khi xác định được vùng nghiên cứu, dã tiến hành tổ chức hội thảo với đại diện các bên liên quan gồm Viện Hải dương học (Cơ quan chủ trì đề tài), Sở Tài nguyên và Môi trường Khánh Hoà, Chi Cục Biển và Hải đảo, Công ty Yến Sào Khánh Hoà, Công ty TNHH một thành viên Vinpearl. Nội dung chính là đề xuất các biện pháp quản lý quần xã sinh vật rạn san hô ở một số khu vực phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn.

Sau khi nghe trình bày tóm tắt về kết quả khảo sát và một số thông tin liên quan khác, các bên đã trao đổi thông tin và đi đến thống nhất ký biên bản ghi nhớ hợp tác lựa chọn 2 khu vực đã dự kiến làm vùng thí điểm triển khai phục hồi san hô (gọi tắt là Vinpearl và Hòn Tằm). Theo đó, các doanh nghiệp phối hợp cùng đơn vị chủ trì dự án thực hiện một số công việc sau:

Thả phao khoanh vùng và chịu trách nhiệm bảo vệ khu vực phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn; Sắp xếp người tham gia tập huấn phục hồi san hô và trong quá trình thả rạn nhân tạo; Cử đầu mối phụ trách liên lạc tham gia khảo sát, kiểm tra phục hồi.

Để đánh giá hiệu quả về thực trạng quản lý rạn san hô tại các khu vực trên, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Kết quả khảo sát về xu thế biến động theo thời của quần xã sinh vật rạn san hô trong đó chúng trọng vào các yếu tố: độ phủ san hô, mật độ các nhóm cá rạn và sinh vật đáy kích thước lớn có giá trị kinh tế như nhóm cá thực phẩm (cá Mú. Hồng, Dìa, Mó, Kẽm...), Cầu gai sọ dừa, Hải sâm...

- Các tổn hại san hô do con người gây ra như: vết san hô gẫy vỡ do neo thuyền, vết đánh mìn, lưới đánh cá, các loại rác vướng trên san hô.

Mặc dù các khu vực được khoanh vùng bảo vệ, tuy nhiên kết quả khảo sát vẫn ghi nhận các tác động của con người lên rạn san hô bao gồm san hô bị gãy đổ do vết giẫm đạp, dấu thả neo rên rạn và các loại rác vướng trên rạn san hô (Hình 11&12). Mặc khác, dù tổng mật độ cá rạn san hô không có sự thay đổi nhiều theo thời gian, tuy nhiên mật độ nhóm cá có kích thước > 10cm lại có sự suy giảm ở cả 3 khu vực khảo sát (Hình 13). Điều này cho thấy vẫn đang có sự khai thác lén lút nguồn lợi sinh vật rạn ở các khu vực được khoanh vùng bảo vệ.

Hình 1: Lưới vướng trên rạn tại Bãi Sạn

Hình 2: Rác vướng trên rạn tại Vinpearl

Hình 3: Sự thay đổi về mật độ cá rạn (Cá thể/100m2) của nhóm cá kích thước 10 – 20 cm tại các khu vực nghiên cứu

Việc khai thác các loại cá có giá trị thực phẩm cũng sảy ra ở khu vực Bãi Sạn (Hình 14), khi mà mật độ các loại cá có giá trị kinh tế như cá Mú, Hồng, Dìa cũng dần suy giảm theo thời gian.

Hình 4: Sự thay đổi về mật độ nhóm cá có giá trị thực phẩm (Cá thể/100m2) tại khu vực Bãi Sạn

Sự xuất hiện các thiên địch ăn san hô như sao biển gai, ốc gai cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm độ phủ của san hô ở vùng nghiên cứu (Hình 5). Sự bùng nổ của địch hại san hô do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có việc mất tính ổn định và cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Để giải quyết vấn đề này thực sự là bài toán khó cho các nhà khoa học và quản lý. Một giải pháp mang tính tức thời là thu thập các thiên địch khi chúng có dấu hiệu bùng phát. Như vậy, đối với các khu vực phục hồi và tái tạo nguồn lợi sinh vật rạn hiện nay thì việc tổ chức các đợt bắt Sao biển gai là cần thiết

Hình 5: Sao biển gai và Ốc gai tại khu vực nghiên cứu

Như vậy, mặc dù các doanh nghiệp đã khoanh vùng và triển khai hoạt động bảo vệ các khu vực phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn. Tuy nhiên, việc quản lý vẫn chỉ tập trung ở mức độ ngăn cản tàu bè xâm nhập, đi qua lại. Trong khi  đó, việc ngăn chặn tình trạng khai thác lén lút nguồn lợi sinh vật vẫn chưa thực sự kiểm soát được. Hơn nữa, các hoạt động khác như thu thập các sinh vật địch hại của san hô (Sao biển gai, ốc Gai) chưa được thực hiện nên khi có hiện tượng bùng nổ các loài thiên địch là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến san hô ở khu vực này.

Qua một thời gian ngắn thực nghiệm, kết quả cho thấy việc quản lý các khu vực phục hồi và tái tạo hệ sinh thái rạn san hô vừa qua chưa thực sự có hiệu quả, việc quản lý chỉ mới dừng lại ở việc khoanh vùng, ngăn chặn tàu thuyền xâm nhập mà chưa quản lý được tình trạng khai thác lén lút nguồn lợi sinh vật rạn cũng như các hoạt động khác có liên quan đến rạn san hô.

Tồn tại lớn nhất của các giải pháp vừa qua là thiếu sự phối hợp giửa các bên liên quan, đặc biệt là sự vào cuộc của các cơ quan thực thi pháp luật trên biển;  do vậy các nhà nghiên cứu đã đề xuất một Quy chế có tính pháp lý do cấp Tỉnh ban hành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

Mai Văn Thắng

Nguồn:Tóm tắt theo Hoàng Xuân Bền Viện Hải Dương học 2018 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

English S., C. Wilkinson and V. Baker, 1997. Survey manual for tropical marine resources. Australian Institute of Marine Science. Townsville. 390 pp.

Hodgson G. and Waddell S, 1997. International Reef Check Core Method. . Hong Kong   University of  Science and Technology. http://www.ust.hk/~webrc/ree97.html; http://reefcheck.org/.  76pp.

Hoàng Xuân Bền, Hứa Thái Tuyến, Phan Kim Hoàng, Nguyễn Văn Long, Võ Sĩ Tuấn. Hiện trạng, xu thế và khả năng phục hồi đa dạng sinh học rạn san hô ở vịnh Nha Trang. Tuyển tập Nghiên cứu biển, tập 21 số 2. Chuyên đề về vịnh Nha Trang, Khánh Hòa, 2015: 176 – 187.

Võ Sĩ Tuấn, 2011. Biến động đa dạng sinh học rạn san hô vịnh Nha Trang và các giải pháp quản lý; Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần V – Tiểu ban Sinh học và nguồn lợi sinh vật biển.  Hà Nội, 2011: 29-39

 
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa