Home các số BT Đánh giá tình hình thu phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ

Đánh giá tình hình thu phí Bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ

Qua 02 năm triển khai thực hiện Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường (Nghị định số 154), công tác quản lý kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã dần đi vào nề nếp, ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và việc kê khai nộp phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải công nghiệp của các tổ chức, cá nhân dần được cải thiện. Qua việc nộp phí đã góp phần gián tiếp khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ xử lý nước thải, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải ra môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại địa phương.

Từ năm 2016 đến năm 2018, tổng số tiền phí BVMT đối với nước thải công nghiệp do Sở TNMT tỉnh Khánh Hòa đã thẩm định, ra thông báo và thu được như sau: năm 2016 là 538.756.084 đồng; năm 2017 là 651.672.428 đồng; năm 2018 là 735.206.600 đồng.

Việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được xây dựng trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, qua đó các tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường, xử lý nước thải đạt quy chuẩn, giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời tạo nguồn thu để chi trả cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Trong quá trình thực hiện, tỉnh Khánh Hòa đã gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Về đối tượng, quy định các chỉ tiêu, thông số tính phí: Nghị định số 154 chưa có danh mục cho các đối tượng sản xuất công nghiệp phải phân tích các thông số kim loại nặng để phục vụ việc kê khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Hiện nay, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với một số ngành nghề như: chế biến thủy sản, chăn nuôi, dệt may... không yêu cầu giám sát các kim loại nặng (thông số ô nhiễm tính phí) được nêu tại Nghị định số 154. Do đó, việc quy định thu phí đối với 2 thông số COD, TSS và cả 04 thông số kim loại nặng (bao gồm As, Hg, Pb, Cd) cho tất cả ngành nghề sản xuất công nghiệp là chưa hợp lý. Trên thực tế, chỉ có một số loại hình sản xuất công nghiệp đặc thù riêng mới phát sinh các kim loại nặng trong nước thải, còn lại đa phần nước thải công nghiệp thông thường không có các chất ô nhiễm này. Mặt khác, việc thu mẫu phân tích các chỉ tiêu kim loại nặng sẽ tốn nhiều chi phí, gây khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nộp phí.

Trước tình hình trên, Sở TNMT tỉnh Khánh Hòa đã có các Công văn số 214/STNMT-CCBVMT ngày 19/01/2017, 1832/STNMT-CCBVMT ngày 08/5/2017 và 2877/STNMT-CCBVMT ngày 07/7/2017 gửi Bộ TNMT đề nghị hướng dẫn quy định về danh mục các cơ sở phải thực hiện phân tích các thông số kim loại nặng  để có căn cứ hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo quy định.  Đồng thời, để tháo gỡ vướng mắc trên, sau khi nhận được các ý kiến của một số cơ sở chế biến, xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh và Công văn số 1991/BTNMT-TCMT ngày 18/4/2018 của Bộ TNMT trả lời cho Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Sở TNMT đã có công văn số 2627/STNMT-CCBVMT ngày 22/6/2018 báo cáo UBND tỉnh Khánh Hòa và UBND tỉnh đã có công văn số 6727/UBND-KT ngày 05/7/2018 đồng ý cho Sở TNMT hướng dẫn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện việc kê khai theo nội dung được Bộ TNMT hướng dẫn cho Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

- Về mức thu phí cố định: Việc tính phí cố định 1,5 triệu đồng/năm đối với tất cả các cơ sở có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 20 m3 /ngày.đêm cho tất cả các ngành nghề là chưa hợp lý. Thực tế, một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng nước rất ít, có cơ sở dưới 01 m3/ngày.đêm (có cơ sở sử dụng chưa đến 10 m3/tháng) hoặc có những cơ sở sản xuất gần như chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt như may mặc mà không dệt, nhuộm,… Khi tiến hành thu phí, địa phương gặp không ít khó khăn vì bị các cơ sở này phản đối và không chịu nộp phí.

Trong thời gian tới, để công tác thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được thực hiện phù hợp hơn, Sở TNMT kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ TNMT một số nội dung như sau:

- Về đối tượng chịu phí: cần có quy định riêng đối với trường hợp đặc thù như các cơ sở nuôi thủy sản (tính theo diện tích nuôi để dễ dàng cho việc kê khai theo quy mô chăn nuôi), tránh áp dụng thu theo lưu lượng giống các loại hình khác như hiện nay; Về quy định các chỉ tiêu, thông số tính phí: việc thu phí đối với các thông số kim loại nặng chỉ nên áp dụng đối với một số ngành nghề đặc thù riêng.

- Về đối tượng kê khai nộp phí: hướng dẫn về việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản (sử dụng nước tuần hoàn mà không thải ra môi trường), các cơ sở nuôi trồng thủy sản lồng bè trên biển, nuôi tôm trên cát; Về đối tượng miễn nộp phí đối với nước thải công nghiệp: trong danh mục các đối tượng chịu phí có cơ sở may mặc (loại hình cơ sở không dệt, nhuộm, giặt tẩy) không phát sinh nước thải sản xuất thì đề nghị xem xét, bổ sung quy định không thu phí đối với nước thải công nghiệp nếu thuộc danh mục nhưng chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt và chịu phí đối với nước thải sinh hoạt theo quy định.

- Về mức thu phí: cần điều chỉnh mức tính phí phù hợp hơn đối với cơ sở có lượng nước thải trung bình dưới 20 m3 /ngày.đêm, bổ sung thêm mức tính phí đối với các cơ sở có lưu lượng phát sinh không quá 05 m3 /ngày.đêm cho phù hợp với quy định về xả nước thải và tạo được sự công bằng hơn đối với các cơ sở phát sinh nước thải rất thấp.

Lý Hạnh Thủy - CCBVMT

Nguồn: Công văn số 218/STNMT-CCBVMT ngày 15/01/2019

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa