Home Các số bản tin Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2011 và những điểm mới cơ bản

Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam năm 2011 và những điểm mới cơ bản

Email In PDF.

Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, tổng thu nhập quốc dân, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, thể hiện mối ràng buộc giữa phát triển và hành động toàn cầu trong tương lai. Từ năm 2009, trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường nước ta đã xây dựng và công bố Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Mức độ chi tiết của Kịch bản này chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu và dải ven biển Việt Nam. Đến năm 2011, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc cập nhật và chi tiết hóa các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao các đơn vị trực thuộc nghiên cứu, xây dựng Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng chi tiết cho Việt Nam ( Kịch bản 2011).

Dưới đây, chúng tôi xin trích lược và giới thiệu tóm tắt một số điểm mới của Kịch bản 2011 so với Kịch bản 2009 để bạn đọc tham khảo.

1.  Về các phương pháp và nguồn số liệu để xây dựng Kịch bản 2011

Kịch bản 2011 không phải là kịch bản mới hoàn toàn, mà là phiên bản cập nhật của Kịch bản 2009 có tính kế thừa và cập nhật, được thể hiện trên các mặt sau:

a) Phương pháp: Kế thừa các phương pháp chi tiết hóa thống kê được sử dụng trong Kịch bản 2009 và có sử dụng thêm phương pháp chi tiết hóa động lực thông qua các mô hình động lực khu vực của Vương Quốc Anh, Nhật Bản và New Zealand.

b) Cơ sở dữ liệu: Kế thừa các cơ sở dữ liệu toàn cầu của IPCC được sử dụng trong Kịch bản 2009 với các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu gồm: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), kịch bản phát thải cao (A2, A1FI). Ðối với các yếu tố khí hậu, Kịch bản 2011 sử dụng toàn bộ 200 trạm khí tượng của Ngành KTTV Việt Nam từ khi có số liệu quan trắc (Kịch bản 2009 chỉ sử dụng một số trạm đại diện cho 7 vùng khí hậu), nên có mức chi tiết hơn đến được cấp tỉnh. Ðối với mực nước biển dâng, Kịch bản 2011 sử dụng tất cả các trạm hải văn đại diện cho 7 khu vực bờ biển (Kịch bản 2009 cung cấp 1 giá trị cho cả dải ven biển Việt Nam), cung cấp 7 giá trị cho 7 khu vực ven biển với mức chi tiết đến cấp tỉnh và bản đồ nguy cơ ngập chi tiết đến cấp huyện.

2. Về các yếu tố khí hậu

Kịch bản 2011 kế thừa và cung cấp các giá trị nhiệt độ, lượng mưa trung bình các thập kỷ đến 2100, đồng thời có bổ sung các cực trị khí hậu như nhiệt độ tối cao, tối thấp, lượng mưa ngày lớn nhất, số ngày có nhiệt độ lớn hơn 35oC. Cụ thể:

a) Nhiệt độ:

-  Theo kịch bản phát thải thấp đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 1,6 đến 2,2oC trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổ và dưới 1,6 oC ở đại bộ phận diện tích phía Nam (từ Ðà Nẵng trở vào).

- Theo kịch bản phát thải trung bình đến cuối thế kỷ 21: nhiệt độ trung bình tăng từ 2 đến 3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác; nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 3,0oC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2oC; số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước.

- Đối với kịch bản phát thải cao đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có mức tăng phổ biến từ 2,5 đến trên 3,7o C trên hầu hết diện tích nước ta.

b)Lượng mưa:

- Theo kịch bản phát thải thấp đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, chỉ vào khoảng dưới 2%.

- Đối với kịch bản phát thải trung bình đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ với mức tăng phổ biến từ 2 đến 7%; riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3%. Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng. Lượng mưa ngày lớn nhất tăng so với thời kỳ 1980 - 1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ. Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay.

- Theo kịch bản phát thải cao, lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng trên khắp lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng từ 2 đến 10%; riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng từ 1 đến 4%.

3. Về nước biển dâng

- Theo kịch bản phát thải thấp (B1) vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 đến 72cm, thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 42 đến 57cm và trung bình toàn Việt Nam dâng trong khoảng từ 49 đến 64cm.

- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2) vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm, thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 49 đến 64cm và trung bình toàn Việt Nam dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm.

- Đối với kịch bản phát thải cao (A1FI) vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105cm, thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85cm và trung bình toàn Việt Nam dâng trong khoảng từ 78 đến 95cm.

Nếu mực nước biển dâng 1m: khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh huởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.

Nhìn chung về ý nghĩa ứng dụng:

- Phiên bản 2011 có các giá trị về nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng chi tiết hơn cho từng tỉnh (63 tỉnh/thành phố) so với phiên bản 2009, với trị số bình quân không đổi nhưng đối với từng khu vực nhỏ thì dao động có lớn hơn.

- Trong phiên bản 2009 chưa có các cực trị khí hậu để phục vụ việc tính toán thiết kế cho các công trình (cấp, thoát nuớc đô thị, các công trình hồ chứa, đê điều, sức khỏe), do đó phiên bản 2011 đưa ra các cực trị khí hậu, bao gồm: nhiệt độ và lượng mưa lớn nhất của các mùa, số ngày có nhiệt độ lớn hơn 35oC, lượng mưa 1 ngày lớn nhất.

- Phiên bản 2009 chỉ xác định diện tích có nguy cơ ngập cho đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, còn với phiên bản 2011 đã xác định diện tích nguy cơ ngập cho tất cả các khu vực ven biển với mức độ chi tiết đến cấp huyện.

Phòng Nước - KTTV tổng hợp

 ___________________________________________________________________________

* Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tham khảo Kịch bản có thể liên hệ trực tiếp Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa hoặc kết nối internet theo địa chỉ: http://tnmtkhanhhoa.gov.vn để tải về.

 
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa