Home Các số bản tin HIỆN TRẠNG VÀ NGUY CƠ Ô NHIỄM, SUY THOÁI, CẠN KIỆT CỦA MỘT SỐ NGUỒN NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ

HIỆN TRẠNG VÀ NGUY CƠ Ô NHIỄM, SUY THOÁI, CẠN KIỆT CỦA MỘT SỐ NGUỒN NƯỚC MẶT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ

Email In PDF.

(Một khúc Sông Cái-Nha Trang-Khánh Hòa)

Theo kết quả điều tra, đánh giá các nguồn nước sông, suối, ao hồ tự nhiên trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà, các nguồn nước mặt của tỉnh hiện tại chưa có dấu hiệu ô nhiễm, suy thoái đặc biệt nghiêm trọng. Kết quả tính toán nhu cầu sử dụng nước cho thấy các nguồn nước mặt vẫn đảm bảo cung cấp đủ cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, kết quả quan trắc chất lượng nước mặt trong những năm gần đây cho thấy một số nguồn nước mặt ở tỉnh Khánh Hòa đang bị tác động tiêu cực bởi phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên, đặc biệt là biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Với nỗ lực tìm ra các biện pháp và giải pháp cấp bách và lâu dài nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường nước, trong năm 2011 và 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng các nguồn nước mặt trên địa bàn toàn tỉnh, đến nay đã hoàn thành và trình UBND tỉnh danh mục các nguồn nước mặt có nguy cơ bị ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt. Qua điều tra, đánh giá, có một số kết quả đáng lưu ý sau:

- Hầu hết các nguồn nước mặt của tỉnh Khánh Hoà cả về mùa mưa lẫn mùa khô đều có dấu hiệu hoặc có nguy cơ ô nhiễm sắt. Theo kết quả phân tích chất lượng nước, hàm lượng sắt của các sông trên địa bàn tỉnh đều nằm ở mức cao. Các sông ở huyện Vạn Ninh (như Sông Đồng Điền, Sông Cạn (Tô Giang), sông Hiền Lương, sông Đồng Công) đều cho kết quả vượt quy chuẩn từ 1.0 đến 1.5 lần. Các sông còn lại trên địa bàn toàn tỉnh có hàm lượng sắt giá trị sát ngưỡng quy chuẩn. Riêng các hồ, đập thuỷ lợi và thủy điện, chưa thấy có dấu hiệu ô nhiễm nhiều vì hầu hết các tiêu chuẩn chất lượng về hóa lý đều đạt chuẩn cho phép và có thể sử dụng để phục vụ mục đích tưới tiêu trong nông nghiệp và sinh hoạt. Tuy nhiên khi sử dụng vẫn cần lưu ý về hàm lượng sắt và hàm lượng oxy hòa tan trong nước để có các biện pháp xử lý thích hợp. Ngoài ra, các tiểu lưu vực ven biển như Bắc Vạn Ninh, Nam Vạn Ninh, Đá Bàn, Bắc Sông Cái Nha Trang, Nam Sông Cái Nha Trang và Bắc Cam Ranh có dấu hiệu và nguy cơ ô nhiễm NO3 về mùa kiệt. Về mùa mưa, các tiểu lưu vực Nam Vạn Ninh, Thượng Sông Cái Ninh Hòa và Nam Sông Cái Nha Trang là những khu vực có dấu hiệu và nguy cơ ô nhiễm chất rắn lơ lững và oxy hòa tan. Kết quả này cho thấy hầu hết các nguồn nước mặt tại tỉnh Khánh Hoà bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ ô nhiễm trong tương lai ở các mức độ khác nhau.

- Hiện nay, tổng lượng nước thiếu trung bình năm của toàn tỉnh vào khoảng 6,25 triệu m3, tập trung chủ yếu ở hai tiểu vực Nam Vạn Ninh và Nam Ninh Hòa, với lượng nước thiếu chủ yếu vào tháng III khoảng 4,06 triệu m3. Dự báo nhu cầu sử dụng nước trong đến năm 2020, có xét đến tác động của biến đổi khí hậu, phát triển dân số, kinh tế, xã hội, tổng lượng nước thiếu toàn tỉnh khoảng trên 26 triệu m3. Ngoài các khu vực thiếu nước hiện nay là Nam Vạn Ninh và Bắc Vạn Ninh, còn xuất hiện thêm các khu vực khô hạn khác là Bắc Vạn Ninh, Bắc Sông Cái Nha Trang, Nam Sông Cái Nha Trang, Bắc Cam Ranh và Nam Cam Ranh. Đến cuối thế kỷ XXI, với xu thế chung là lượng nước tăng vào mùa lũ và giảm về mùa kiệt, hiện tượng thiếu nước sẽ xảy ra trầm trọng hơn vào mùa kiệt với tổng lượng thiếu khoảng 70-100 triệu m3. Tuy nhiên, một số tiểu vùng như Thượng Sông Cái Ninh Hòa, Sông Bến Lội, Sông Cái Nha Trang, Sông Giang, Sông Chò, Sông Khế và Sông Cầu là những vùng đủ nước trong thế kỷ 21, kể cả theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau. Danh mục các tiếu lưu vực có nguồn tài nguyên nước mặt có nguy cơ cạn kiệt theo thứ tự giảm dần là: Nam Vạn Ninh, Nam Ninh Hòa, Bắc Vạn Ninh, Nam Sông Cái Nha Trang, Bắc Sông Cái Nha Trang, Bắc Cam Ranh, Nam Cam Ranh, Đá Bàn, Sông Ba Hồ, Sông Tô Hạp.

Để bảo tồn, xử lý, khôi phục các nguồn nước ô nhiễm và suy thoái, đảm bảo cho phát triển bền vững, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ tham mưu UBND tỉnh một số biện pháp mang tính tổng hợp để quản lý nguồn nước, trong đó sẽ ưu tiên hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên nước; nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên nước gắn với công tác bảo vệ môi trường; nâng cao trình độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước và tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành và cộng đồng trong viêc khai thác, bảo vệ và chia sẽ nguồn nước.

Bùi Minh Sơn

Trưởng Phòng Nước-KTVV

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 07 Tháng 5 2013 16:15 )  
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa