Home Các số bản tin KÝ SỰ CỦA MỘT QUẢN KHO

KÝ SỰ CỦA MỘT QUẢN KHO

Email In PDF.

1. Từ Ty điền địa Khánh Hòa đến Sở Tài nguyên và Môi trường Khánh Hòa :

      Trước năm 1975, tỉnh Khánh Hòa có các quận Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Dương, Vĩnh Xương, Diên Khánh, Cam Lâm và thị xã Cam Ranh.
Năm 1975, cùng với cả nước, Khánh Hòa  giải phóng và đổi chế độ. Ngày 6 tháng 4 năm 1975 Ủy ban quân quản tỉnh Khánh Hòa tách Vĩnh Trang thành 3 đơn vị hành chính. Vùng đất thị xã Nha Trang trước đây chia làm 2 quận (Quận I và Quận II) và huyện Vĩnh Xương cũ đổi thành quận Vĩnh Xương.
Tháng 9 năm 1975, Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Khánh Hòa quyết định hợp nhất Quận I và Quận II, lấy thêm các phường Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước của quận Vĩnh Xương thành lập thị xã Nha Trang.
Tháng 4 năm 1976, 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hợp nhất lại thành tỉnh Phú Khánh . Phần đất của quận Vĩnh Xương hợp vào quận Diên Khánh làm thành huyện Khánh Xương.
Ngày 30 tháng 3 năm 1977, theo Quyết định số 391-QĐ/CP của Hội đồng Chính phủ, lấy 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ là Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương cắt ra khỏi huyện Khánh Xương nhập vào thị xã Nha Trang. Đồng thời nâng thị xã Nha Trang lên thành thành phố trực thuộc tỉnh Phú Khánh.
Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Phú Khánh được tách thành 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, thành phố Nha Trang trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Ứng với mỗi thời kì tách và sát nhập đơn vị hành chính là mỗi biến cố về đất đai.

Từ năm 1963 đến năm 1975 cơ quan quản lý về đất đai của tỉnh là Ty Điền địa Khánh Hòa để quản lý về việc đăng ký, cấp phát, bồi thường đất đai để người cày có ruộng. Trãi qua một thời gian dài của thời bao cấp dường như tài liệu về đất đai không còn tồn tại ở nhiều cơ quan sở tại.

Từ năm 1986 – 1994, Ban Quản lý ruộng đất và Đo đạc bản đồ – trực thuộc Sở Nông nghiệp Khánh Hòa là cơ quan quản  lý về đất đai của Tỉnh Khánh Hòa. Giá trị tài liệu của thời kì này vẫn còn lưu giữ và khai thác đến ngày nay.

Từ năm 1994 – 2004, Sở Địa Chính được thành lập theo quyết định 1698/UB của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa ngày 25/8/1994 . Đây là thời kỳ phông tài liệu được hình thành nhiều và phổ biến nhất tại cơ quan như : Bản đồ 201; bản đồ địa chính và địa chính cơ sở ; tài liệu về giao đất, cấp đất  đối với các hộ gia đình – cá nhân ; tài liệu về giao đất , cho thuê đất và thu hồi đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội chính trị, tổ chức xã hội nghề nghiệp... Hơn hết, vào thời kỳ này công tác quản lý bản đồ tại đơn vị đã được số hóa và đưa vào phục vụ cho đến ngày này.

Từ năm 2004 – đến nay : Ngày 11/3/2004 UBND tỉnh ra Quyết định 39/QĐ-UB thành lập Sở Tai nguyên và Môi trường trên cơ sở Sở Địa Chính. Theo thời gian và chức năng nhiệm vụ, phông lưu trữ tại đơn vị ngày một phong phú hơn. Ngoài những tài liệu có tại đơn vị về lĩnh vực đất đai còn có thêm mảng tài liệu về môi trường, khoáng sản, nước và khí tượng thủy văn đúng như chức năng và nhiệm vụ của Sở. Tuy số lượng này chưa nhiều nhưng đã phần nào hình thành và đang được thu thập bổ sung.

2. Niềm trăn trở của người quản kho :

      Có làm công việc gì và gắn bó  mật thiết mới thấy rằng nó như là huyết mạch của bản thân. Cái tâm của chúng tôi đặt vào những trang giấy cũ dậy mùi hóa chất như những người mẹ đặt niềm hi vọng vào những đứa con ngoan. Bỡi lẽ, mỗi một tờ giấy là một khối tài sản và hơn hết nó còn mang đến sự sự bình yên cho xã hội.

Mười năm không phải là một thời gian dài nhưng để làm một công việc thì mươi năm quả  là không ngắn. Chúng tôi không miệt mài nghiên cứu như những nhà khoa học nhưng công việc của chúng tôi mang tính thầm lặng. Tôi đã gắn bó với nó được mười năm. Cái ngỡ ngàng của ngày đầu vẫn còn nguyên vẹn trong tôi : bàn số hóa, bản đồ, tài liệu giấy ngỗn ngang, máy vi tính thì hạn chế.Thế mới biết được cái khó khăn của những người đi trước.  Mỗi người tốt nghiệp một ngành khác nhau nhưng chúng tôi luôn bổ sung kiến thức cho nhau.  Những phông tài liệu từng ngày được chỉnh lý và hình thành. Dần dà, kho dữ liệu ngày một ’’phình to’’.

Người miền Trung chúng tôi có câu nói ’’ngày 23/10 (Âl) không lụt cũng mưa’. Đúng là như thế ! Mùa mưa bão năm 2008 kéo dài đến tận 21 ngày. Dù không mong muốn, nhưng điều gì đến vẫn đến. Nước đã ngấm vào kho ! anh em chúng tôi không quản đường xá xa xôi, ai có thể phóng xe lao theo dòng nước bạc là chúng tôi chạy, không kể thời gian. Đến cơ quan đã 21h đêm. Phố vẫn sáng và dòng nước trắng xóa cứ ì oạm vỗ  vào tường.  Đường phố  và vỉa hè đã trở thành sông, con đường càng trở nên hun hút trong mưa. Bác bảo vệ đóng cửa cơ quan, mưa to quá, tiếng gọi của chúng tôi không ai nghe thấy. Vượt tường! Ý nghĩ lóe lên và quyết định. Trong mưa bão, người ta biết bản thân mấy ai nghĩ đến tài sản. Chúng tôi lại khác,  mang theo xô hứng và tạt nước để ’’cứu kho’’, cứu tài sản của nhân dân. Nước đã ngấm trần và ngập đến tận mắt cá chân.  Cứ mỗi lần có công việc phải xuất  trình giấy tờ tùy thân, tôi lại ngầm mỉm cười. Những tờ giấy tùy thân cũng bị nhăn nheo và bong tróc cả hình ảnh. Đó là chiến tích oanh liệt nhất của tôi do để giấy tờ trong cốp xe và con nước đã làm ngã xe vào đêm đó.

Điều đáng trăn trở nhất là việc cung cấp sao lục tài liệu. Mỗi một khách hàng đến và đi để lại trong tôi những nổi niềm lẫn lộn. Vui vì đã hoàn thành sứ mệnh, buồn vì kho tư liệu không đủ cung cấp cho nhân dân, cán bộ cần sao lục.  Đã có những giọt nước mắt vui buồn để lại. Tôi đã khóc khi có ai đó đã chửi thẳng vào mặt tôi vì không đáp ứng nhu cầu. Đã là tài sản riêng mà quý vị không giữ được, chúng tôi là những hậu bối làm sao nắm hết được. Tài liệu chúng tôi đang quản lý mang tính kế thừa và thu thập. Xin đừng trách cứ và nặng lời với chúng tôi. Cổ nhân có dạy ’’Tiên trách kỷ, hậu trách nhân’’. Chúng tôi đã đặt tâm của mình vào công việc,  đặt vị trí của mình vào những người cần được cung cấp số liệu để làm tròn trách nhiệm. Dù quy chế sao lục, cung cấp tài liệu đã có  nhưng chúng tôi luôn sớm hẹn. Trong số quý vị, có vị vượt hơn 80km kể cả đường đèo không kể người Kinh hay người thiểu số để đến với chúng tôi thì không có lý do gì chúng tôi hững hờ với qúy vị.

3. Thay lời kết :

      Tôi muốn mượn câu nói của đồng chí Nguyễn Văn Ba Phó chi cục trưởng Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa trong một lần dẫn đoàn kiểm tra để thay lời kết: ‘’ Người làm công tác lưu trữ là những người làm dâu trăm họ. Khó khăn là thế ! Độc hại là thế ! Nhưng phải luôn  nhẫn nhịn. Hàng ngày các anh chị tiếp xúc với giấy tờ cũ kỷ, là một người dễ chịu cũng trở thành khó tính. Trong tình hình đất nước đang hội nhập, nếu đơn vị không có chế độ đãi ngộ tốt những người làm công tác lưu trữ sẽ bỏ cơ quan ra đi sớm.’’ Chúng tôi vẫn lớp lớn truyền đạt lại kinh nghiệm cho lớp nhỏ, đơn giản một điều đó là lương tâm và trách nhiệm./.

 
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa