Home các số BT Quy định mới về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Quy định mới về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Bắt đầu từ ngày 01/7/2013, Nghị định số 25/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/3/2013 về phí bảo vệ môi trường(BVMT) đối với nước thải có hiệu lực thi hành và thay thế các Nghị định: số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003; số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007; số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010 về phí BVMT đối với nước thải.

Theo đó, Nghị định 25 có một số điểm mới cơ bản so với các Nghị định trước đây về phí BVMT đối với nước thải đó là:

1. Bổ sung vào đối tượng không chịu phí (i) nước làm mát thiết bị, máy móc không tiếp xúc với chất gây ô nhiễm trước khi thải ra môi trường và (ii) nước mưa tự nhiên chảy tràn;

2. Xác định rõ về trường hợp các doanh nghiệp sản xuất có sử dụng nước từ đơn vị cung cấp nước sạch thì chỉ phải nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, không phải nộp phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt trên hoá đơn tiền nước.

3. Thay đổi cách tính và mức phí đối với nước thải công nghiệp.Quy định khung mức thu phí cố định theo năm tối đa không quá 2,5 triệu đồng đối với tất cả các cơ sở sản xuất, chế biến thuộc diện nộp phí BVMT đối với loại nước thải này. Ngoài mức phí cố định nêu trên, các doanh nghiệp xả nước thải với khối lượng từ 30m3/ngày đêm trở lên sẽ nộp phí biến đổi đối với 2 chất gây ô nhiễm là nhu cầu oxy hoá học (COD) và chất rắn lơ lửng (TSS) theo khung đối với từng chất lần lượt từ 1.000 đồng/kg – 3.000 đồng/kg và 1.200 đồng/kg – 3.200 đồng/kg.Riêng các doanh nghiệp có nước thải chưa kim loại nặng thì mức phí cố định nêu trên được nhân thêm với hệ số K từ 2 đến 21 tuỳ vào lượng nước xả thải của đơn vị tính theo m3/ngày đêm.Đối với cơ sở có nước thải chứa kim loại nặng có đầu tư, xử lý các kim loại nặng đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt thì được áp dụng hệ số K bằng 1.

Với những điểm mới căn bản như trên, cơ bản khắc phục một số vướng mắc gặp phải trong quá trình thực hiện Nghị định 67/2003/NĐ-CP, đó là:

+ Thu được phí đối với các chất kim loại nặng có trong nước thải mà không phải lấy mẫu, đánh giá phân tích bằng cách áp dụng hệ số K.

+ Giảm tải khối lượng công việc, chi phí của doanh nghiệp sản xuất và cơ quan thu phí trong việc kê phai, nộp phí đối với nhóm các cơ sở có khối lượng nước thải ít (dưới 30m3/ngày đêm), do chỉ phải nộp một khoản phí cố định cho cả năm sản xuất. Vì theo Nghị định 67 việc thu phí đối với nước thải CN được tính theo 6 chất gây ô nhiễm, bao gồm: Nhu cầu ô xy hoá học, Chất rắn lơ lửng, Thuỷ ngân, Chì, Arsenic và Cadmium. Để tính phí được với 06 chất này, doanh nghiệp phải lấy mẫu, phân tích, đánh giá hàm lượng của từng chất gây ô nhiễm dẫn đến tốn nhiều công sức, chi phí, nhiều trường hợp số phí thu được còn thấp hơn cả chi phí cho việc thực hiện các khâu này; đảm bảo công bằng cho các cơ sở sản xuất có nước thải khác nhau;

+ Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật, công nghệ để xử lý chất lượng nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vì các trường hợp này, doanh nghiệp không phải áp dụng hệ số K.

Trọng Tuệ (Tổng hợp)

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa