Home các số BT Nhiễm mặn các tầng chứa nước ở vùng ven biển Khánh Hòa.

Nhiễm mặn các tầng chứa nước ở vùng ven biển Khánh Hòa.

Tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước dưới đất nói riêng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, cần thiết cho sự sống, có thể tái tạo song không phải vô tận, cần quản lý, bảo vệ, có biện pháp khai thác hợp lý để khai thác hiệu quả và bền vững.  Trong những năm gần đây, do yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, diễn biến bất thường của thời tiết, khí hậu do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu nên tài nguyên nước, đặc biệt tài nguyên nước dưới đất phải đối diện với nhiều thách thức, tình trạng chất lượng nước dưới đất bị suy thoái do nhiễm mặn, nhiễm bẩn đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Bài viết này giới thiệu về cơ chế nhiễm mặn, đặc điểm nhiễm mặn các tầng chứa nước dưới đất ở Khánh Hòa để bạn đọc tham khảo.

Nhiễm mặn nước dưới đất có nghĩa là nước dưới đất vốn là nhạt nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà bị nhiễm mặn, thậm chí chưa bị mặn nhưng tổng độ khoáng hóa đã tăng theo thời gian, nguyên nhân chính gây ra nhiễm mặn có thể là do các yếu tố tự nhiên hoặc do nhân tạo.

Cơ chế nhiễm mặn: giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, đó là giải quá độ dần từ nước mặn sang nước nhạt, nó có thể là một đường ngoằn nghèo, một đường cong hay một đường cong khép kín. Nếu ranh giới không khép kín thì nước nhạt sẽ có dạng hình nêm. Khi khai thác nước nhạt, đường ranh giới sẽ tiến dần về phía công trình khai thác với tốc độ không đều nhau. Những chỗ nước mặn tiến vào nhanh hơn ranh giới sẽ có dạng một chiếc lưỡi gọi là “ lưỡi mặn”. Thông thường lưỡi mặn là bộ phận đầu tiên tiến tới lỗ khoan khai thác, làm nhiễm mặn chỗ hút nước lên.

Trong điều kiện tự nhiên, mực nước hoặc mực áp lực của nước nhạt sẽ nằm cao hơn mực nước mặn. Khi khai thác nước nhạt, trong phần nước nhạt sẽ hình thành một phễu hạ thấp, giữa hình phễu và nước mặn sẽ tồn tại một tuyến phân thủy. Phía trong tuyến phân thủy này nước chảy về lỗ khoan khai thác. Phía ngoài tuyến phân thủy nước chảy về phía nước mặn. Nếu chúng ta khai thác “vừa phải”, tức là lượng nước khai thác không vượt quá lượng nước bổ sung thì tình hình sẽ diễn ra như sau: vào đầu mùa khô, tuyến phân thủy còn nằm trong phạm vi nước nhạt, dần dần cùng với quá trình khai thác tuyến phân thủy chuyển dần về phía nước mặn. Vào khoảng giữa mùa khô tuyến phân thủy sẽ nằm trong phần nước mặn và như vậy có một phần nước mặn di chuyển về phía lỗ khoan khai thác, nhưng khi nước mặn còn chưa di chuyển tới lỗ khoan thì đã vào mùa mưa nên tuyến phân thủy sẽ nhanh chóng dịch ngược lại về phía nước nhạt và vào khoảng giữa mùa mưa tuyến phân thủy sẽ nằm hoàn toàn trong nước nhạt. Tình hình đó cứ “lặp đi lặp lại” theo chu kỳ hàng năm và nếu công trình khai thác bố trí hợp lý thì nước khai thác lên không bao giờ bị nhiễm mặn. Ngược lại, nếu khai thác vượt quá số lượng bổ sung thì tuyến phân thủy cũng dịch chuyển theo chu kỳ như trên nhưng cứ sau một năm tuyến phân thủy lại lùi gần về phía lỗ khoan khai thác một ít và tới một lúc nào đó vị trí tuyến phân thủy đến quá gần và làm cho nước mặn tiến gần đến lỗ khoan.

Theo kết quả điều tra, đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất tại các vùng ven biển cho thấy ở vùng ven biển Khánh Hòa có một số đặc điểm về nhiễm mặn như sau:

Một là, nhiễm mặn do nước biển xâm nhập vào tầng chứa nước: Nước trong các tầng chứa nước ven biển có sự liên hệ chặt chẽ với nước biển. Tại những vùng cửa sông, nơi địa hình thấp, cột áp thủy lực của dòng ngầm thấp hơn cột áp của nước biển, giữa đáy biển và tầng chứa nước không có lớp cách nước đủ dày thì nước biển sẽ xâm nhập vào tầng chứa nước. Kết quả của quá trình xâm nhập đó là nước dưới đất bị hòa lẫn cùng nước biển và tăng dần độ mặn. Độ khoáng hóa của nước dưới đất trong đới nhiễm mặn thường từ 1,5 đến 3 ÷4 g/l và hơn nữa, thậm chí có nơi nước dưới đất mặn như nước biển. Chẳng hạn, tiểu vùng thành phố Nha Trang: các tầng chứa nước Jura và Pleistocen phân bố ở độ sâu từ 25m đến 30m trở xuống, nước trong các tầng chứa nước này bị nhiễm mặn hoàn toàn, với độ khoáng hóa từ thay đổi từ 1,55 đến 9,36 g/l. Các tầng chứa nước còn lại nước trong chúng bị nhiễm mặn theo khoảnh không liên tục. Các khoảnh nước dưới đất bị nhiễm mặn hoàn toàn (từ trên xuống dưới) được phân bố ở thung lũng sông Quán Trường, xuất phát từ Vĩnh Xuân, kéo xuống Phước Thượng, Phước Long và ra cửa Bé, với diện tích khoảng 17,5km2. Khoảnh nhiễm mặn thứ hai được phân bố thành dải kéo dài, xuất phát từ Đắc Lộc, qua cánh đồng Vĩnh Phương, qua Vĩnh Ngọc, chạy dọc theo thung lũng sông Cái, vòng xuống Vĩnh Thái và ra cửa Cầu Bóng, với diện tích khoảng 12,2km2. Ở  hạ lưu thung lũng sông Đồng Bò, xuất phát từ cuối thôn Phước Hạ, diện tích nước dưới đất cũng bị nhiễm mặn khoảng 1,0 km2. Ngoài ra, còn có 2 khoảnh nước dưới đất bị nhiễm mặn hoàn toàn phân bố ven biển ở khu vực Cát Lợi và Văn Đăng, thuộc xã Vĩnh Lương, với diện tích khoảng 0,9km2.

Đối với tiểu vùng Vạn Ninh- Ninh Hòa: đã hình thành một dải nhiễm mặn nước dưới đất kéo dài theo bờ biển từ Tu Bông đến thị trấn Vạn Giã và dọc theo đường tỉnh lộ 651 từ Cổ Mã đến Mũi Đá Son (phía giáp Vịnh Vân Phong), với chiều rộng từ 100m đến 1.000 m. Diện tích nhiễm mặn trong tầng chứa nước khá lớn. Tiểu vùng Ninh Hòa có diện tích các tầng chứa nước bị nhiễm mặn lớn hơn, chiếm khoảng 60 km2, kéo dài từ Hòn Khói về phía Tây Nam qua trung tâm thị xã đến Ninh Lộc. Ngoài ra, có một số khoảnh nhỏ nước dưới đất bị nhiễm mặn phân bố rải rác ở các xã ven biển. Trong địa bàn các địa phương này, nước dưới đất bị nhiễm mặn từ trên mặt xuống dưới sâu, kể cả trong tầng chứa nước khe nứt.

Tiểu vùng Cam Ranh - Cam Lâm có diện tích nước dưới đất bị nhiễm mặn khá lớn, kéo dài theo Quốc lộ 1A từ Suối Tân đến Cam Ranh.

Hai là, nhiễm mặn theo chiều sâu: Ranh giới nhiễm mặn dưới sâu gần trùng với ranh giới nhiễm mặn được thể hiện trên mặt địa hình (trên các cửa sông). Các tầng chứa nước phân bố dưới sâu thường bị nhiễm mặn gồm trầm tích Pleistocen và phần ven biển của tầng chứa nước khe nứt trầm tích Jura (đáy đồng bằng Nha Trang, Ninh Hòa).

Ba là, sự biến đổi ranh mặn trong các tầng chứa nước theo thời gian: so sánh các kết quả phân tích nước trong tầng chứa nước Holocen dọc theo dải ven biển huyện Vạn Ninh, Cam Lâm, thị xã Ninh Hòa, thành phố Nha Trang và thành phố Cam Ranh, các tài liệu khảo sát địa vật lý vào thời đoạn trước năm 2001 và vào các năm 2007-2008, 2010 - 2011 cho thấy: Ranh mặn tại các tiểu vùng đã có sự dịch chuyển theo thời gian trong suốt thập kỷ vừa qua, một số nơi diện tích nhiễm mặn tăng do sự dịch chuyển của ranh mặn về phía nước nhạt song chưa nghiêm trọng lắm. Ở một số nơi, còn nhận thấy ranh mặn dịch chuyển về phía biển, điều này có thể giải thích qua xu hướng tăng lên của lượng mưa trung bình năm của giai đoạn 2004 đến nay, quá trình thăng trầm của vỏ quả đất tại Khánh Hòa hiện tại có nhiều yếu tố thuận lợi đối với sự hạn chế hiện tượng nước biển dâng. Bên cạnh đó, cũng cần khẳng định rằng trong những năm qua, các cấp chính quyền đã có nhiều cố gắng để bảo vệ, hạn chế việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất tại các vùng ven biển có nguy cơ nhiễm mặn.

Tuy vậy, những năm gần đây dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hoạt của con người như phá rừng ngập mặn, xây hồ đập, công trình khai thác nước ở thượng lưu, canh tác diêm nghiệp, nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch ở ven biển, khai thác nước dưới đất quá mức cho phép, không đúng kỹ thuật thì sớm muộn ranh giới nhiễm mặn sẽ dịch chuyển nhanh về phía nước dưới đất chưa nhiễm mặn, gây ra những tác hại vô cùng to lớn, ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, đảm bảo an ninh - quốc phòng, đặc biệt việc cấp nước sinh hoạt phục vụ đời sống nhân dân trong những trường hợp nắng hạn kéo dài, nguồn nước mặt bị cạn kiệt, ô nhiễm.

   

Ảnh vùng nhiềm mặn trên goole earth


 

Vùng nhiễm mặn trên bản đồ chất lượng nước dưới đất

(Dự án điều tra đánh giá sơ bộ nước dưới đất ven biển tỉnh  Khánh Hoà

   

Vùng nhiễm mặn trên bản đồ chất lượng nước dưới đất

(Dự án điều tra đánh giá sơ bộ nước dưới đất ven biển tỉnh  Khánh Hoà)

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa