Ảnh ngẩu nhiên

Lưu vực các suối trên Hòn Lớn và bán đảo Hòn Gốm (phác thảo ranh giới vẽ màu xanh)

Đối với tỉnh Khánh Hòa, một trong số các vấn đề đáng quan tâm nhất trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu có lẽ là nạn hạn hán dẫn đến thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các khu vực ven biển và hải đảo có tiềm năng phát triển kinh tế nhưng việc cấp nước lại đang gặp rất nhiều khó khăn. Trong thực tế, một số trong các khu vực này có nguồn nước ngầm được dự đoán là khá phong phú (như bán đảo Hòn Gốm và bán đảo Cam Ranh) nhưng hiện nay chưa được thăm dò, đánh giá đầy đủ và chưa được phép khai thác.

Một số nơi khác có tiềm năng khá lớn về nước mặt nhưng nguồn nước này cũng chưa được đánh giá và chưa có biện pháp khai thác hiệu quả. Thí dụ như trong vịnh Vân Phong, phần lớn các dự án du lịch triển khai trên Hòn Lớn hầu như phải dựa vào nguồn nước chở từ đất liền.

Để góp phần vào việc tìm ra các biện pháp hợp lý giải quyết nhu cầu cấp nước phục vụ phát triển kinh tế ở khu vực này, phần dưới đây giới thiệu một số thông tin liên quan đến các nguồn nước mặt trên Hòn Lớn và phần phía Nam bán đảo Hòn Gốm.

Các khu vực có nguồn nước mặt có thể khai thác

Trên đảo Hòn Lớn có một số con suối nhận nước từ các lưu vực khá rộng và một số thường xuyên có nước:

- Suối đổ vào Bãi Tranh (phía Bắc đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 200 m, lưu vực rộng khoảng 6,5 km2 (số 1 trong hình 1); tại đây có khá đông dân cư sinh sống dựa vào nguồn nước này.

- Suối trong lưu vực đánh số 2 trên hình 1, lưu vực này rộng 3,3 km2, nguồn nước này chưa được sử dụng.

- Suối trong lưu vực rộng 3,8 km2 (số 3 trên hình 1), nguồn nước này cũng gần như chưa được sử dụng.

- Suối đổ vào Bãi Nhàu (phía Đông đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m, lưu vực (đánh số 4 trong hình 1) rộng khoảng 3,4 km2; nguồn nước này hầu như chưa được khai thác, sử dụng nhiều.

- Suối đổ vào Bãi Giầm (phía Tây Nam đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m, lưu vực (đánh số 5 trong hình 1) rộng khoảng 2,4 km2; khu du lịch Lucky Land có dự kiến sử dụng nguồn nước này.

Ở phần phía Nam của bán đảo Hòn Gốm có hai con suối bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m đổ vào khu vực Khải Lương và Bãi Giông (phía Tây Nam bán đảo):

- Suối đổ vào Khải Lương có lưu vực (đánh ký hiệu A trong hình 1) rộng khoảng 1km2; nguồn nước này đang được dân cư ở thôn Khải Lương sử dụng trong sinh hoạt.

- Suối đổ vào Bãi Giông có lưu vực (đánh ký hiệu B trong hình 1) rộng khoảng 2 km2.

Với lượng mưa trung bình năm hơn 1.000 mm, tổng lượng dòng chảy từ các lưu vực nói trên lần lượt là 6.500.000 m3, 3.300.000 m3, 3.800.000 m3, 3.400.000 m3, 2.400.000 m3, 1.000.000 m3 và 2.000.000 m3. Nguồn nước tại phía Nam bán đảo Hòn Gốm (từ lưu vực B) tuy không lớn lắm nhưng cũng có thể đầu tư khai thác phục vụ cho khu vực này, nơi mà việc xây dựng hệ thống cấp nước hầu như không khả thi. Với lượng dòng chảy hơn 19.000.000 m3 tại Hòn Lớn, nếu có biện pháp khai thác hợp lý có thể cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và cho các ngành kinh tế trên đảo; trong trường hợp cần thiết, nước từ lưu vực 4 còn có thể cung cấp cho phần phía Nam bán đảo Hòn Gốm với chi phí chuyên chở thấp hơn nhiều so với hiện nay (vận chuyển đường biển khoảng 3 km).

Một số biện pháp tăng cường dự trữ nước

Để tăng cường khả năng dự trữ nước, chúng ta có thể thực hiện các biện pháp sau đây:

a) Xây các hồ chứa trên phần đầu nguồn của các suối trên đảo Hòn Lớn trong phạm vi các lưu vực 2 và 3.

b) Xây các đập ở phần cuối các con suối ở Bãi Tranh (Hình 2), Bãi Nhàu (Hình 3), Bãi Giầm (Hình 4) và Bãi Giông (Hình 5); các đập chắn này được liên kết với các tường chắn trên bãi (ở trên đới tác động của sóng) để giữ nước ngọt trong các bãi cát ở khu vực cửa các suối để giảm thiểu đến mức tối đa việc thoát nước ngọt vào biển. Thí dụ về đập và tường chắn được minh họa ở hình 3, khu vực Bãi Nhàu: Lượng nước được dự trữ trong hồ và trong cát ở khu vực Bãi Nhàu có thể lên hơn 10.000 m3 và có thể tăng lên nếu các dự án có thực hiện việc tôn nền. Điều thuận lợi là nền móng ở các khu vực này thường là các thềm biển cấu tạo bởi đá có xi măng carbonate. Khả năng chống thấm của loại vật liệu này khá tốt, có thể đáp ứng yêu cầu lưu giữ nước. Chiều dài của các tường chắn này được ước tính như sau: khoảng 600 m ở Bãi Tranh, 150 m ở Bãi Nhàu, 550 m ở Bãi Giầm và 170 m ở Bãi Giông. Khả năng chứa nước ở khu vực này thay đổi theo độ cao của đập và tường chắn.

Trên đây là những điều trình bày chỉ mang tính gợi ý và định hướng. Với nhu cầu lớn và cấp bách của việc cấp nước phục vụ phát triển kinh tế cho các khu vực ven biển và hải đảo trong vịnh Vân Phong thì rất cần có các nghiên cứu chi tiết hơn để có được các quy hoạch khai thác nguồn nước mặt một cách hợp lý và hiệu quả./.

Một số hình ảnh chụp từ vệ tinh:

Bãi Tranh

Bãi Nhàu

Bãi Giầm

Bãi Giông






Home

Những kết quả nổi bật trong công tác cải cách hành chính năm 2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường

Email In PDF.

Năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tập trung chỉ đạo các phòng, đơn vị thuộc Sở đẩy mạnh công tác CCHC trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở. Ngay từ đầu năm, Sở đã ban hành kế hoạch CCHC chung của Sở, xây dựng kế hoạch tuyên truyền CCHC và kế hoạch kiểm tra công tác CCHC, xây dựng kế hoạch rà soát thủ tục hành chính; làm cơ sở để các phòng, đơn vị thuộc Sở triển khai thực hiện. Tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch CCHC đầu năm và 6 tháng cuối năm 2013. Qua một năm thực hiện, Sở TNMT đã đạt được những kết quả nổi bật về CCHC như sau:

1. Công tác tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tuyên truyền pháp luật:

Năm 2013, Sở được UBND tỉnh giao tham mưu HĐND và UBND tỉnh ban hành 02 Nghị quyết và 07 Quyết định; Sở đã hoàn thành, trình HĐND tình ban hành 02 Nghị quyết, UBND tình ban hành 04 Quyết định, đang trình 03 dự thảo quyết định. Tổ chức tập huấn các văn bản pháp luật về Khoáng sản, Đất đai, Tài nguyên nước, Biển và hải đảo cho các cán bộ chuyên môn của Sở, các ngành có liên quan, phòng TNMT và Văn phòng Đăng ký QSD đất các huyện, thị xã, thành phố.

2. Công tác rà soát thủ tục hành chính:

Trong năm 2013, Sở Tài nguyên và Môi trường kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh công bố sửa đổi, thay thế 01 thủ tục hành chính và toàn bộ mẫu đơn kèm theo trong lĩnh vực khoáng sản; công bố thay thế 56 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai; công bố thay thế 01 thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường.

3. Về áp dụng  ISO trong hoạt động của cơ quan

Ngày 02/01/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-STNMT kiện toàn Ban Chỉ đạo áp dụng HTQLCL theo TCVN ISO 9001 2008; ban hành kế hoạch thực hiện việc áp dụng HTQLCL theo TCVN ISO 9001 2008 năm 2013 của Sở.

Các lĩnh vực được tiếp tục duy trì gồm: đất đai, tài nguyên khoáng sản địa chất, tài nguyên nước và môi trường. Hiện nay, Sở đang tiếp tục duy trì hệ thống QLCL tại Văn phòng Sở, Chi cục Bảo vệ môi trường và Văn phòng Đăng ký QSD đất, xây dựng mới hệ thống QLCL tại Chi cục Quản lý đất đai. Đến nay, Văn phòng Sở, Văn phòng Đăng ký QSD đất và Chi cục Bảo vệ môi trường đã phối hợp với đơn vị tư vấn tổ chức đánh giá giám sát lần 1. Chi cục Quản lý đất đai đã hoàn thành việc xây dựng các quy trình, đánh giá chứng nhận lần đàu vào ngày 26/11/2013, đang khắc phục các điểm không phù hợp để đề nghị Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng cấp giấy chứng nhận.

4. Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Sở tiếp tục duy trì bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ tại bộ phận “một cửa”, đến nay có 53  thủ tục hành chính đang được triển khai thực hiện tại Bộ phận “một cửa”. Từ ngày 01/01/2013 đến ngày 25 tháng 11 năm 2013, toàn Sở đã giải quyết được 2753/2911 hồ sơ đối với các lĩnh vực, đạt 94,57 % hồ sơ phải giải quyết; trong đó có 54,22 % hồ sơ giải quyết sớm hẹn, 44,75 % hồ sơ giải quyết đúng  hẹn và 1,03 % hồ sơ giải quyết trễ hẹn.

5. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Sở đã sắp xếp, bố trí  07 cán bộ học Cao học; 07 cán bộ học lớp Cao cấp chính trị - Hành chính; 02 cán bộ học bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình Chuyên viên chính; 15 cán bộ học lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên; 02 cán bộ học lớp bồi dưỡng kiến thức ANQP; 03 cán bộ học lớp Trung cấp lý luận chính trị.

6. Thực hiện các quy định về kiện toàn tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, công chức, viên chức

Làm thủ tục đề nghị UBND tỉnh Quyết định về việc kéo dài thời gian giữ  chức vụ Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đến tuổi nghỉ hưu đối với đ/c Lê Mộng Điệp - Giám đốc Sở; Quyết định bổ nhiệm lại chức danh Giám đốc Văn phòng Đăng ký QSD đất; Quyết định bổ nhiệm chức danh Chi cục trưởng Chi cục Biển – Hải đảo.

Quyết định điều động và bổ nhiệm Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường; Quyết định điều động và bổ nhiệm Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Phát triển quỹ đất; Quyết định điều động và bổ nhiệm Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký QSD đất; Quyết định điều động và bổ nhiệm Phó Giám đốc Trung tâm Kỷ thuật tài nguyên và môi trường; Quyết định điều động và bổ nhiệm Phó trưởng phòng Giá đất – Bồi thường, hỗ trợ tái định cư; Quyết định giao trách nhiệm phụ trách Phòng Nước – Khí tượng TV.

Làm thủ tục bổ nhiệm Chánh văn phòng, Trưởng phòng Khoáng sản – Địa chất. Trung tâm Công nghệ thông tin bổ nhiệm và luân chuyển 02 Phó trưởng phòng, bổ nhiệm mới 01 Phó trưởng phòng. Quyết định luân chuyển 01 công chức từ Văn phòng Sở sang Chi cục Quản lý đất đai; Chi cục Bảo vệ môi trường luân chuyển 03 công chức, Chi cục Quản lý đất đai luân chuyển 01 nhân viên; Trung tâm Công nghệ thông tin luân chuyển 02 viên chức./. 

                                                                                                                 Nguyễn Duy Đức - Văn phòng Sở

Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 14 Tháng 1 2014 14:32 )  
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa