Home

Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo mô hình tập trung, hiện đại

Email In PDF.

Trong thời gian qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) Tài nguyên và Môi trường (TNMT) nói chung và CSDL đất đai nói riêng đã được lãnh đạo các cấp quan tâm và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, việc xây dựng CSDL đất đai ở các địa phương hiện nay chưa tạo ra được một hệ thống CSDL đất đai thống nhất theo mô hình chung, chưa phục vụ kịp thời cho công tác quản lý và đáp ứng yêu cầu  khai thác, chia sẽ thông tin. Vì vậy, việc xây dựng CSDL đất đai theo mô hình tập trung, hiện đại là một trong những giải pháp và là công cụ quản lý hữu hiệu của ngành, cũng như phục vụ tốt nhu cầu khai thác thông tin đất đai của các ngành, cơ quan các cấp và của nhân dân.

Với tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Chính phủ trong thời gian qua đã ban hành nhiều văn bản quan trọng chỉ đạo về công tác xây dựng CSDL đất đai, đặc biệt Nghị Quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạonền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại cũng đã nêu“Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ đa mục tiêu; từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai. Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai”; Ngày 8/6/2012 Chính phủ ban hành Nghị       quyếtsố16/NQ-CP ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TƯ ngày 16/01/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng trong đó Chính phủ giao Bộ TNMT xây dựng “Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”.

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng CSDL đất đai như Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 4/10/2010  “Quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính” , Thông tư số 18/2013/TT-BTNMT ngày 18/7/2013 “Ban hành định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng CSDL địa chính”; đặc biệt đã ban hành Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT  ngày 04/10/2013 “Quy định về việc xây dựng CSDL đất đai” (Thông tư 04).

Thông tư 04 quy định “việc xây dựng CSDL đất đai được xây dựng tập trung thống nhất từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”.

Vậy CSDL theo mô hình tập trung là gì? nguyên tắc, thành phần, yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và việc vận hành CSDL đất đai tập trung như thế nào? Bài viết này sẽ cung cấp một số thông tin như sau:

1. Mô hình CSDL tập trung:  Trong mô hình CSDL tập trung gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được quản lý tập trung tại hệ thống máy chủ, đơn vị quản lý hệ thống máy chủ có trách nhiệm quản lý dữ liệu, bảo dưỡng và tích hợp dữ liệu, điều phối hoạt động và chia sẽ dữ liệu, hướng dẫn việc khai thác hệ thống…Trong khi đó các đơn vị liên quan làm việc với hệ thống chỉ phát triển, cập nhật, bão dưỡng dữ liệu, không lưu trữ dữ liệu. Như vậy, về mặt tổ chức các đơn vị liên quan đến hệ thống dữ liệu chỉ có nhiệm vụ cung cấp, cập nhật dữ liệu lên hệ thống và chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đó.

2. Nguyên tắc xây dựng CSDL đất đai theo mô hình tập trung

Đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn là đơn vị cơ bản để thành lập CSDL đất đai.

CSDL đất đai của cấp huyện là tập hợp dữ liệu đất đai của các xã thuộc huyện; đối với các huyện không có đơn vị hành chính xã trực thuộc thì cấp huyện là đơn vị cơ bản để thành lập CSDL đất đai.

CSDL đất đai cấp tỉnh được tập hợp từ cơ sở dữ liệu đất đai của tất cả các huyện thuộc tỉnh.

CSDL đất đai cấp Trung ương được tổng hợp từ cơ sở dữ liệu đất đai của tất cả các tỉnh trên phạm vi cả nước.

3. Thành phần CSDL đất đai gồm có CSDL địa chính; CSDL quy hoạch sử dụng đất; CSDL giá đất; CSDL thống kê, kiểm kê đất đai. Trong đó CSDL địa chính là thành phần cơ bản của CSDL đất đai, làm cơ sở để xây dựng và định vị không gian các CSDL thành phần khác.

4. Yêu cầu hạ tầng kỹ thuật của mô hình CSDL tập trung

- Về phần mềm ứng dụng: Các phần mềm ứng dụng cho việc xây dựng, quản lý, khai thác, cập nhật cơ sở dữ liệu được Bộ TNMT thẩm định và cho phép sử dụng, bao gồm:

Phần mềm hệ thống; phần mềm nền (quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ, hệ thống thông tin địa lý...).

Phần mềm ứng dụng, gồm các phân hệ cơ bản: Quản trị hệ thống; quản lý thông tin không gian địa chính; nhập, cập nhật dữ liệu; đăng ký đất đai (đăng ký lần đầu, đăng ký biến động); đồng bộ dữ liệu; Khai thác thông tin đất đai (tổng hợp, tra cứu, cung cấp, kết xuất bản đồ,...); cổng thông tin đất đai.

- Về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin:

Thiết bị phục vụ lưu trữ và vận hành CSDL đất đai bao gồm: Máy chủ cơ sở dữ liệu (Data Server); máy chủ cơ sở dữ liệu dự phòng (Standby Data Server); máy chủ sao lưu cơ sở dữ liệu (Backup Data Server); Hệ thống lưu trữ cơ sở dữ liệu có thể sử dụng trực tiếp hệ thống đĩa cứng trên máy chủ (giải pháp DAS) hoặc các hệ thống lưu trữ dữ liệu chuyên dụng trên mạng như Hệ thống lưu trữ trên mạng (Storage Area Network - SAN), hệ thống lưu trữ kết nối mạng (Network Attached Storage - NAS). Dung lượng của hệ thống thiết bị lưu trữ phải đảm bảo đủ để lưu trữ cơ sở dữ liệu đất đai và kho hồ sơ cấp Giấy chứng nhận dạng số; hệ thống sao lưu dữ liệu gồm thiết bị ghi đĩa DVD-ROM hoặc các hệ thống sao lưu dữ liệu lâu dài khác.

Thiết bị phục vụ khai thác, cập nhật dữ liệu thường xuyên của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (VPĐKQSDĐ) các cấp bao gồm: Hệ thống máy trạm có cấu hình mạnh về đồ họa để thao tác, chỉnh lý dữ liệu không gian của cơ sở dữ liệu đất đai; Hệ thống máy trạm có cấu hình trung bình để thao tác, chỉnh lý dữ liệu thuộc tính của cơ sở dữ liệu đất đai; Hệ thống thiết bị ngoại vi bao gồm máy quét khổ A3, máy quét tài liệu khổ A4, máy in khổ A4, máy in khổ A3, máy vẽ khổ A1 trở lên, máy đọc mã vạch; Thiết bị ghi đĩa DVD-ROM phục vụ chia sẻ, đồng bộ dữ liệu giữa VPĐKQSDĐcác cấp.

Đường truyền bao gồm: Mạng diện rộng (WAN/internet) kết nối trực tuyến giữa VPĐKQSDĐ cấp tỉnh và VPĐKQSDĐcấp huyện; Hệ thống mạng cục bộ (LAN).

5. CSDL đất đai được quản lý và vận hành theo mô hình tập trung ở địa phương như sau:

CSDL đất đai được lưu trữ, quản lý thống nhất tại Sở TNMT - gọi là CSDL đất đai cấp tỉnh.

VPĐKQSDĐ cấp tỉnh truy cập vào CSDLđất đai cấp tỉnh thông qua mạng cục bộ (LAN) hoặc mạng diện rộng (WAN) để khai thác, cập nhật thông tin đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền.

VPĐKQSDĐ cấp huyện truy cập vào CSDL đất đai cấp tỉnh thông qua mạng diện rộng (WAN/internet) để khai thác, cập nhật thông tin đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền.

Cán bộ địa chính xã truy cập vào CSDL đất đai cấp tỉnh thông qua mạng diện rộng (WAN/internet) để khai thác thông tin phục vụ yêu cầu quản lý đất đai ở địa phương.

Các tổ chức khác và cá nhân có nhu cầu sử dụng thông tin thì tra cứu thông qua cổng thông tin đất đai cấp tỉnh.

Nếu hạ tầng mạng chưa đáp ứng được yêu cầu truy cập trực tiếp của VPĐKQSDĐ cấp huyện vào CSDL đất đai tập trung tại cấp tỉnh thì chiết xuất CSDL  đất đai cấp tỉnh ra bản sao theo từng huyện và cài đặt vào máy chủ của cấp huyện để khai thác sử dụng và cập nhật chỉnh lý biến động đất đai thường xuyên.

Nhìn chung, việc xây dựng CSDL đất đai theo mô hình tập trung thì các thành phần xử lý ứng dụng, phần mềm CSDL và bản thân CSDL  đều ở trên một bộ xử lý. Hầu hết công việc xử lý luồng thông tin chính được thực hiện bởi nhiều tổ chức mà vẫn phù hợp. Tuy nhiên, để xây dựng được hệ thống CSDL đất đai tập trung cần phải đầu tư được hạ tầng công nghệ thông tin và đào tạo đội ngũ CCVC cả 3 cấp vững chắc để vận hành hệ thống đạt hiệu quả./.

(Tài liệu tham khảo: Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT; Thông tư số 18/2013/TT-BTNMT; Tài liệu tập huấn chính sách pháp luật về xây dựng CSDL đất đai năm 2013)./.

                                                                                                                Nguyễn Thị Huệ - TTCNTT

 
M88