Ảnh ngẩu nhiên


Bài viết này tổng quan vài khái niệm về dòng rút (rip current) h trợ việc phòng tránh và cứu hộ ở các bãi tắm ven biển, đồng thời nhận định bước đầu về vị trí xuất hiện của dòng rút ở Bãi Dài - Cam Ranh dựa trên phân tích dữ liệu ảnh máy bay hiện có kết hợp xử lý bản đồ độ sâu vùng nước nông ven bờ ở khu vực này.

Vài khái niệm về dòng rút

Dòng rút được xem là một trong những mối nguy hiểm hàng đầu ở các bãi tắm ven biển. Sự tồn tại của dòng rút liên quan trước hết với kiểu đổ nhào của sóng: Sự không đồng nhất của năng lượng sóng gió đã tạo ra các vùng hội tụ và phân kỳ sóng cũng như các vùng có mực nước cao và mực nước thấp khác nhau. Mực nước thường dâng cao ở vùng lân cận đới sóng đổ nhào, tạo ra một sự mất cân bằng nước, làm phát sinh một dòng chảy từ bờ rút ra khơi (dòng rút). Địa hình bãi biển cũng là một tác nhân góp phần tạo ra dòng rút: a) mực nước ở trên bar cát ở vùng nước nông thường cao hơn so với các trũng, rãnh vì chúng là nơi tập trung năng lượng sóng; b) sự hình thành của các bar cát liền kề nằm song song với bờ với các trũng sâu ở giữa là yếu tố địa hình cơ bản tạo ra sự khác biệt cục bộ của dòng chảy ven bờ và kích thích cho sự vận chuyển nước chảy thẳng góc (hoặc hơi chếch) từ bờ ra xa (hình 1).

Dòng rút hình thành rất gần bờ, có thể nhận dạng bằng mắt thường thấy vùng sóng bạc đầu là vùng nước nông trên các bar cát nước chảy vào, trong lúc đó vùng lặng sóng ở giữa là vùng nguy hiểm, là nơi xuất hiện dòng rút (hình 2). Sự hình thành bãi cát dạng răng cưa (cuspate shape) cũng là một dấu hiệu nhận dạng vị trí xuất hiện của dòng rút, nó thường xuất hiện tại các vùng lõm ở các bãi dạng này.

Hình 1: Các thành phần cơ bản của dòng rút: dòng chảy vào do sóng (1); vùng phát sinh dòng rút (2 ); thân dòng rút (3); đầu dòng rút (4)

Ngoài ra, một số học giả đã thảo luận về mối liên quan của sự hình thành dòng rút với một số yếu tố động lực:

- Sóng lừng (swell) tuy không tạo sóng bạc đầu nhưng cũng gây ra dòng rút ở các vùng có các công trình biển như kè ngang, cầu tàu hoặc các bãi tắm dạng túi (pocket beach) kẹp giữa các mũi đất.

- Dòng rút thường không xuất hiện vào sáng sớm hoặc ban chiều khi gió biển bắt đầu hình thành hoặc suy yếu, mà thường xuất hiện với tần suất cao và cường độ mạnh vào ban trưa khi gió đất thổi mạnh từ bờ ra khơi.

- Dòng rút liên quan chặt chẽ với đặc điểm thủy triều, chúng xảy ra với tần suất cao và cường độ mạnh vào các thời đoạn mực nước triều thấp và ít hơn nhiều với cường độ yếu vào các thời đoạn mực nước triều cao.

Hình 2: Một số dấu hiệu nhận biết các vị trí có thể xuất hiện dòng rút: vùng lặng sóng giữa các vùng sóng bạc đầu xung quanh; bãi tắm dạng răng cưa; dòng rút xuất hiện rõ với chân, thân và phần đầu rõ rệt (thường thành từng nhóm

Vài nhận định bước đầu về dòng rút ở Bãi Dài - Cam Ranh

Dựa trên tư liệu ảnh máy bay chụp ngày 21 tháng 2 năm 2004 có thể đưa ra vài nhận định bước đầu về địa hình vùng Bãi Dài và sự xuất hiện của dòng rút ở khu vực này. Về mặt địa hình bãi và đáy biển, kết quả xử lý ảnh máy bay (hình 3) cho thấy những nét đặc điểm hình thái chính như sau:

- Địa hình Bãi Dài có dạng răng cưa với nhiều doi cát và vùng lõm phân bố đều, nằm xen kẽ nhau.

- Phần ngập nước có các hệ thống rãnh sâu chạy thẳng góc với bờ (được gặp trên suốt đoạn bờ của Bãi Dài).

Do đó dòng rút có thể xuất hiện ở mọi nơi dọc đoạn bờ này. Tuy nhiên sự tồn tại của hệ thống bar cát ven bờ không liên tục có thể là yếu tố quyết định cho sự hình thành dòng rút nên dòng rút chỉ được ghi nhận trong khoảng tọa độ 109o11’50”- 109o12’00”; 12o04’20”- 12o04’40” (đoạn bãi số 3 ở hình 4). Ba dòng rút được ghi nhận có cường độ mạnh dần xuống phía Nam, đây là nơi duy nhất có hệ thống bar ngầm và cửa thoát (rộng khoảng 40m) tạo điều kiện thuận lợi cho dòng rút hình thành.

Hình 3: Hình thái địa hình bãi Dài

(kết quả xử lý ảnh máy bay chụp ngày 21/02/2004)

Hình 4: Địa hình đáy vùng ven bờ bãi Dài – Cam Ranh trên 4 đoạn bờ khác nhau


Hình 4: Địa hình đáy vùng ven bờ bãi Dài – Cam Ranh trên 4 đoạn bờ khác nhau (tiếp theo)

Việc phóng đại ảnh máy bay và địa hình ngầm ở khu vực này (hình 5) cho ta thấy rõ hơn hình thái địa hình chi tiết ở khu vực xuất hiện dòng rút, đồng thời thể hiện rõ hơn cơ chế hình thành hệ thống dòng rút ở vùng tồn tại các bar cát ngầm và các cửa rút (rip gap).

Hình 5: Vị trí của hệ thống dòng rút xuất hiện ở Bãi Dài - Cam Ranh vào ngày 21 tháng 2 năm 2004 (nơi tồn tại các bar cát ngầm cửa thoát nằm trùng với các rảnh sâu chạy thẳng góc với bờ)

Một số nhận xét

- Dòng rút thường xuất hiện ở các bãi tắm hình răng cưa kết hợp với sự tồn tại hệ thống bar cát ngầm không liên tục (có cửa thoát) ở vùng nước nông ven bờ biển, chúng nằm song song với bờ trùng với vị trí của các trũng sâu nằm thẳng góc với bờ.

- Một số vị trí có dòng rút xuất hiện ở Bãi Dài - Cam Ranh đã được xác định bước đầu thông qua kết quả phân tích ảnh máy bay chụp ngày 21 tháng 4 năm 2004 trong khoảng tọa độ 109o11’50”- 109o12’00” và 12o04’20”- 12o04’40”(Ảnh vệ tinh trên Google Earth chụp ngày 2/01/2010 cũng cho thấy một dòng rút xuất hiện trong khu vực này).

- Chưa có các thông tin về dòng rút trong mùa gió tây nam.

Để có những nhận định chính xác hơn về vị trí, cường độ dòng rút trong từng thời kỳ khác nhau (liên quan với các đặc điểm sóng, gió, thủy triều, địa hình) cần có những nghiên cứu bổ sung về điều kiện sóng, gió, thủy triều, dòng dọc bờ và cả các khảo sát chi tiết địa hình trong từng thời kỳ khác nhau. Để hỗ trợ các nghiên cứu này cần có một hệ thống camera tự động hoặc thủ công được thiết kế và đặt ở một vị trí tương đối cao (khoảng 100 – 120m so mặt nước biển) có thể giúp quét và chụp ảnh thường xuyên toàn khu vực, nó cho phép giám sát thường kỳ nhằm bắt gặp vị trí của dòng rút trong mối liên quan với các đặc điểm khí hậu - khí tượng trong khu vực.

Home

Một số nội dung về công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa

Email In PDF.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa (viết tắt là Bệnh viện) được thành lập theo Quyết định số 1198/QĐ-UBND ngày 09/7/2007 của UBND tỉnh Khánh Hòa; Loại hình hoạt động là khám chữa bệnh; Năm chính thức hoạt động là năm 1975; Số lượng cán bộ, nhân viên là 1.108 người; Tổng diện tích mặt bằng là 31310,9 m2, trong đó diện tích xây dựng là 11626,6 m2; Số giường bệnh theo chỉ tiêu 1000 giường bệnh với 35 khoa phòng, trong 06 tháng đầu năm 2013 công suất sử dụng giường bệnh 103,5%; số lượt bệnh nhân vào điều trị nội trú/ngày là 174 lượt; số lượng bệnh nhân khám bệnh/ngày là 900 lượt.

Bệnh viện được UBND tỉnh Khánh Hòa phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Quyết định số 3257/QĐ-UBND ngày 10/12/2010 cho dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp bệnh viện Đa khoa tỉnh thành bệnh viên đa khoa vùng từ 650 giường lên 1000 giường.

Năm 2013, Bệnh viện hợp đồng giám sát môi trường với Công ty TNHH Công nghệ New, Đồng thời Bệnh viện hợp đồng thu dọn, vận chuyển rác thải (thông thường và y tế sau khi hấp tiệt trùng) với Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Nha Trang và hợp đồng dịch vụ vệ sinh với Công ty Cổ phần môi trường Khánh Hòa. Định kỳ bệnh viện báo cáo công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường và công tác quản lý chất thải nguy hại về Sở Tài nguyên và Môi trường. Bệnh viện hợp đồng với Công ty TNHH tư vấn đầu tư và tổ chức sự kiện Thiên Minh lập hồ sơ xin khai thác, sử dụng nước dưới đất và xả nước thải vào nguồn nước.

Tình hình phát thải các chất ô nhiễm và biện pháp giảm thiểu:

- Nước sử dụng: Khoảng 665 m3/ngày đêm từ nguồn nước máy của thành phố Nha Trang. Ngoài ra, Bệnh viện có sử dụng 2 giếng khoan phục vụ tưới cây.

- Nước thải: Bằng 80 – 85% lượng nước cấp, các nguồn phát sinh gồm sinh hoạt, khám chữa bệnh… được thu gom về hệ thống xử lý nước thải công suất 900 m3/ngày đêm, áp dụng công nghệ sinh học và nước thải sau xử lý thải ra cống thành phố Nha Trang; Bệnh viện không phát sinh nước thải từ quá trình tráng rửa phim. Tại thời điểm kiểm tra hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện đang trong giai đoạn bảo trì, bảo dưỡng.

- Khí thải, tiếng ồn, mùi: Phát sinh từ quá trình khám chữa bệnh…, rác thải sinh hoạt…, lò đốt chất thải y tế được trồng cây xanh, khử mùi, tiệt trùng và xử lý bằng phương pháp hấp để hạn chế đến mức thấp nhất về mùi, tiếng ồn và khí thải đến dân cư xung quanh, bệnh nhân...

- Chất thải rắn: Khoảng 1.185 kg/ngày đêm, phát sinh từ sinh hoạt và từ các khoa phòng được thu gom về kho chứa rác của bệnh viện, hằng ngày Công ty TNHH MTV đô thị Nha Trang vận chuyển, xử lý.

- Chất thải nguy hại: Khoảng 544 kg/ngày đêm, phát sinh gồm các loại chất thải y tế lây nhiễm được thu gom về kho lưu giữ chất thải có dán nhãn, phân loại và xử lý bằng phương pháp hấp ướt áp lực cao Autoclava ở nhiệt độ 1310C và rác thải sau khi hấp được Công ty TNHH MTV đô thị Nha Trang vận chuyển, xử lý hằng ngày, còn các mô phẩm được lưu giữ ở nhiệt độ – 100C trong thời gian 30 ngày rồi chuyển qua hỏa táng.

Qua đợt kiểm tra ngày 03/10/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Bệnh viện tiếp tục thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt gồm thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý chất thải y tế lây nhiễm, nguy hại, thông thường đúng quy định; định kỳ báo cáo công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường và công tác quản lý chất thải nguy hại về Sở TNMT, đăng ký cấp lại sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, hoàn thiện hồ sơ xin khai thác, sử dụng Tài nguyên nước (nước ngầm) và hồ sơ xả thải vào nguồn tiếp nhận trình UBND tỉnh cấp phép.

                                                                                                       Hoàng Phan Nhã Trân - TTCNTT

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa