Home Các số bản tin Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.

Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.

Email In PDF.

Ngày 25/6/2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo số 82/2015/QH13. Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 10/2015/L-CTN ngày 08/7/2015 công bố Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gồm 10 Chương, 81 Điều, quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam. Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Luật cũng quy định, đối với hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý, khai thác, sử dụng các loại tài nguyên biển và hải đảo thực hiện theo quy định của các luật có liên quan và bảo đảm phù hợp với các quy định tại Luật này. Luật quy định một số nội dung chính sau đây:

(1) Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo;

(2) Điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

(3) Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ;

(4) Quản lý tài nguyên hải đảo;

(5) Kiểm soát ô nhiễm, ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc và nhận chìm ở biển;

(6) Quan trắc, giám sát tổng hợp và hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

(7) Hợp tác quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

(8) Trách nhiệm quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Trong đó, Luật có nhiều nguyên tắc, chế định mới quan trọng như: nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo phải dựa trên tiếp cận hệ sinh thái, bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng phù hợp với chức năng của từng khu vực biển và trong giới hạn chịu tải của môi trường, các hệ sinh thái biển, hải đảo; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển; các quy định về hành lang bảo vệ bờ biển, phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ; khai thác, sử dụng tài nguyên hải đảo; phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; cấp Giấy phép nhận chìm ở biển…

Sự ra đời của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã góp phần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về biển và hải đảo của nước ta. Luật sẽ trở thành công cụ quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý quy định cụ thể cơ chế, chính sách, công cụ điều phối, phối hợp liên ngành, liên vùng… giúp cho công tác quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa khắc phục những khó khăn, vướng mắc, xác định phương hướng, mục tiêu và định hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển và hải đảo; thống nhất các hoạt động quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo từ trung ương đến địa phương, đảm bảo phát triển bền vững biển và hải đảo, góp phần thực hiện hiệu quả Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phát triển kinh tế biển nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Riêng quy định tại Khoản 1 Điều 79 (điều khoản chuyển tiếp) có hiệu lực từ thời điểm Luật được công bố.

Theo đó, quy định tại Khoản 1 Điều 79 thì kể từ thời điểm Luật này được công bố (ngày 08/7/2015), giữ nguyên hiện trạng, không được phép đầu tư, xây dựng mới công trình trong phạm vi 100 m tính từ đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm về phía đất liền hoặc về phía trong đảo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho đến khi hành lang bảo vệ bờ biển được thiết lập theo quy định của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Xây dựng mới công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa;

b) Xây dựng mới công trình theo dự án đầu tư phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển quyết định chủ trương đầu tư;

c) Xây dựng công trình theo dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc xây dựng công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng trước thời điểm Luật này được công bố.

Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 79 quy định trong thời hạn 18 tháng kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý.

Như vậy, thời gian tới, trong công tác cấp phép đầu tư, xây dựng mới các công trình ven biển, trong công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) với các dự án ven biển, UBND tỉnh cần đảm bảo thực hiện đúng theo Khoản 1 Điều 79; đồng thời có kế hoạch nghiên cứu, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển theo quy định của Luật này.

Hương Trang

 
chuyen nha tron goi, binh cuu hoa