Home các số BT Thực trạng các khu bảo tồn biển ở Việt Nam và một số định hướng phát triển bền vững

Thực trạng các khu bảo tồn biển ở Việt Nam và một số định hướng phát triển bền vững

Bảo tồn biển là hoạt động quản lý các vùng biển xác định (kể cả các đảo có trong vùng biển đó), hướng tới mục đích bảo vệ các loài động thực vật có giá trị. Bảo tồn biển sẽ bảo vệ các hệ sinh thái biển và duy trì sự đa dạng sinh học biển. Hệ quả là các loài động thực vật ở vùng biển được bảo vệ, cảnh quan vùng biển được duy trì, là nền tảng tạo ra sự phong phú về sản vật, sản phẩm biển để các doanh nghiệp, cộng đồng, các quốc gia phát triển thương hiệu biển, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Khu bảo tồn biển có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển, cải thiện sinh kế của cộng đồng ngư dân các địa phương ven biển, bảo tồn biển còn có ý nghĩa to lớn đối với nghiên cứu khoa học, giáo dục cộng đồng, giải trí và du lịch sinh thái; góp thêm cơ sở pháp lý và cung cấp các công cụ hành chính cho việc đấu tranh bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, giải quyết các vấn đề môi trường xuyên biên giới trong vùng Biển Đông mà các nước trong khu vực đang quan tâm.

Ngày 26/5/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 742/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó 16 khu bảo tồn biển đã được thiết lập gồm: Đảo Trần, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà (thuộc vùng địa sinh vật biển ven bờ phía Bắc Việt Nam), Hòn Mê, Cồn Cỏ, Hải Vân – Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Nam Yết, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Phú Quý, Hòn Cau, Côn Đảo (thuộc vùng địa sinh vật biển ven bờ phía Nam Việt Nam). Phú Quốc (thuộc vùng địa sinh vật biển vịnh Thái Lan).

Tới thời điểm này, đã thành lập và hình thành được mạng lưới 9/16 khu bảo tồn biển, gồm: Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc. Trong đó, một số khu bảo tồn biển tiêu biểu gồm:

Khu bảo tồn biển Cát Bà nằm trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Khu bảo tồn này chính là trung tâm của quần đảo Cát Bà, bao gồm một đảo lớn và 366 hòn đảo nhỏ hơn ở cách thành phố Hải Phòng 30km về phía đông và nằm kề Vịnh Hạ Long. Khu bảo tồn Cát Bà gồm khu vực biển khơi và các đảo nhỏ nằm ở phía Đông đảo Cát Bad. Khu bảo tồn biển Cát Bà là vùng phân bố các đa dạng sinh cảnh tự nhiên rộng lớn, bao gồm các rạn san hô, các bãi cỏ biển, rừng ngập mặn và trên các đảo có kiểu rừng trên núi đá vôi. Tính đa dạng sinh học đã được biết tại đây tương đối cao hơn so với các khu bảo tồn biển được đề xuất khác ở phía Bắc Việt Nam. Đã ghi nhận được 199 loài thực vật nổi, 89 loài động vật nổi, 75 loài cỏ biển ở vùng Đảo Cát Bà. Khu bảo tồn biển Cát Bà là nơi chưa đựng các nguồn tài nguyên thủy sản phong phú, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Đay là khu vực đánh bắt thủy sản quan trọng đối với cả nhân dân địa phương và ngư dân từ các vùng ven biển khác của Việt Nam đến. Khu bảo tồn biển Cát Bà có chung đường ranh giới với khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và có tiềm năng làm cơ sở cho việc mở rộng và phát triển ngành du lịch.

Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị có tổng diện tích là 4.532 ha, Vùng biển đảo Cồn Cỏ được các cơ quan nghiên cứu khoa học đánh giá là một trong những hệ sinh thái biển có mức độ đa dạng sinh học cao của Việt Nam. Đã phát hiện và thống kê được tại Cồn Cỏ có 113 loài san hô, 57 loài rong cỏ biển, 67 loài động vật đáy, 19 loài giáp xác, 224 loài cá bienr khơi, 87 loài cá rạn san hô (có cả san hô màu đỏ và san hô đen – san hô sừng), 164 loài động vật phù du, 68 nhóm loài động vật phù du. Trong đó có nhiều loài hải sản quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, cua ghẹ, hải sâm, vẹm xanh, điệp, cá thu, cá mú, cá kẽm, cá cu nam, cua biển, mực các loại …..

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm nằm cách đô thị cổ Hội An chừng 19km (10 hải lý) gồm 8 hòn đảo với diện tích 15,5 km2 và có tổng diện tích mặt nước ở 5.175 ha trong đó có khoảng 165 ha rạn san hô và 500 ha thảm cỏ biển. Khi nghiên cứu về hệ sinh thái khu vực này các nhà khoa học đã phát hiện 947 loài sinh vật sống trên vùng nước quanh các đảo, quanh các vỉa san hô cứng và mềm phát triển dày đặc, với 200 loài san hô, trong đó có 6 loài quý hiếm lần đầu tiên tìm thấy tại các vùng biển đảo ở nước ta. Bên cạnh đó còn có hơn 200 loài cá; 5 loài tôm hùm, 94 loài nhuyễn thể … Ngoài ra, trên các dảo có nhiều loài động vật quý hiếm, mang đậm tính đặc trưng riêng chỉ có ở Cù Lao Chàm.

Khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang đã được xây dựng nhằm giúp bảo vệ đa dạng sinh học, hiện tại ở đây có hơn 400 loài động vật không xương sống, trong đó có nhiều loài mới được phát hiện ở nước ta và 350 loài san hô, 300 loài cá. Kết quả khảo sát tại khu bảo tồn biển Hòn Mun cho thấy vùng biển khu vực này có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam. Tại đây đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng được đánh giá là khu bảo tồn biển có tầm vóc quốc tế vì có số loài tương tự như ở trung tâm thế giới về đa dạng san hô ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong những hang động đá đen ở Hòn Mun hàng năm có chim yến về làm tổ. Do địa thế của đảo rất gần dòng biển nóng từ phía xích đạo đưa tới nên rất thích hợp với điều kiện phát triển của san hô vè nhiều loài sinh vật biển nhiệt đới cũng về đây quần tụ. Đáy biển Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật phong phú và đa dạng.

Thời gian đây tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm các hoạt động tham quan, du lịch, nghiên cứu diễn ra khá thường xuyên, đã biến hòn đảo này trở nên sinh động và náo nhiệt hơn. Nhờ vậy mà đời sống của cư dân nơi đây được cải thiện đáng kể nhờ vào các hoạt động dịch vụ.

Khu bảo tồn biển Côn Đảo còn tương đối nguyên vẹn về phân bố, cấu trúc của thành phần sinh vật biển như san hô, thảm cỏ biển, rong biển, thân mềm, bò sát biển, thú biển và sự phân bố của các loài cá ở ba tầng mặt, giữa và đáy biển.

Tài nguyên sinh vật biển đa dạng và phong phú, có nhiều giá trị về kinh tế và khoa học. Quan trọng hơn, quần xã sinh vật biển Côn Đảo còn là nơi cung cấp bổ sung nguồn giống các loài sinh vật biển cho các vùng nước ven bờ miền Trung và Vịnh Thái Lan. Có thể nói Côn Đảo là một ngư trường lớn và quan trọng của vùng biển Đông Nam của đất nước. Kết quả thống kê được 1321 loài động, thực vật ở vùng biển Côn Đảo.

Ngoài tính đa dạng cao về nguồn gen, Côn Đảo còn chứa nhiều loài quý hiếm. Kết quả nghiên cứu đã thống kê được ở thủy vực Côn Đảo có tới 44 loài là nguồn gen cực kỳ quý hiếm của Việt Nam và đã được đưa vào Sách đỏ, bao gồm: 2 loài rong, 2 loài thực vật ngập mặn, 3 loài san hô, 12 loài thân mềm, 1 loài giáp sát, 4 loài da gai, 7 loài cá, 7 loài bò sát, 5 loài chim và 1 loài thú. Tính ra ở đây có gần 1000 loài có giá trị thực phẩm, xuất khẩu, mỹ nghệ dược liệu, du lịch.

Đặc biệt bò sát và thú biển là 2 loài rất đặc sắc ở đây. Rùa biển (Seaturtle) đã thống kê được 7 loài. Có 2 loài thường gặp và lên bãi đẻ hàng năm, đó là đồi mồi (Eretmochelys imbricate) và vích (Chelonia mydas). Tại Vườn quốc gia Côn Đảo có 17 bãi đẻ của rùa biển. Có thể nói quần thể rùa biển tại Côn Đảo có số lượng lớn nhất đang tồn tại ở Việt Nam, và chương trình cứu hộ rùa biển là một sáng tạo đầu tiên, rất hiệu quả trong việc bảo tồn ở Việt Nam.

Về thú biển: ngoài cá Heo (Denphin), cá Mập thường gặp ven đảo, năm 1995 Vườn đã phát hiện loài Dugong (Dugong dugon), dân địa phương thường gọi là bò biển. Đây là loài thú biển cực kỳ quý, là đối tượng được đặc biệt quan tâm bảo vệ trên toàn cầu.

Khu bảo tồn Phú Quốc là một trong những khu bảo tồn biển được thành lập sớm nhất (sau khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang và Cù Lao Chàm) trong mạng lưới các khu bảo tồn Việt Nam. Diên tích mặt nước của khu bảo tồn khoảng 26.863 ha, bao gồm 12 hòn đảo lớn nhỏ. Đây là một khu vực có đa dạng sinh học tương đối cao. Dienj tích các rạn san hô trong khu bảo tồn không lớn nhưng được phân bố đều khắp các hòn đảo lớn nhỏ và còn trong trạng thái phát triển tốt. CHúng phân bố chủ yếu ở hòn đảo phía Nam Phú Quốc thuộc xã Hòn Thom với 108 loài thuộc cả 2 nhóm san hô cứng và san hô mềm. Trong số những rạn san hô của vùng này, nhiều rạn có mức đa dạng sinh học và cấu trúc đặc trưng như những rạn ở Hòn Móng tay và Hòn Gầm Chì. Đặc biệt, điều kiện môi trường, chất lượng nước của khu vực rất tốt nên đây cũng là nơi nuôi dưỡng các cá thể chưa trưởng thành của rất nhiều loài cá rạn san hô (135 loài) và các thảm cỏ biển. Phần lớn các thảm cỏ biển tập trung ở phía Đông và Đông Bắc, thuộc 2 xã Hàm Ninh và Bãi Thom với diện tích trên 10.000 ha (lớn nhất cả nước). Loại thực vật này là nơi ẩn náu, cư trú thuận lợi nên tập trung nhiều loài cá biển ven bờ, trong đó có nhiều loài thủy sản có giá trị sinh học và kinh tế như: cá ngựa, ghe, … Đặc điểm khác của đa dạng sinh học vùng biển Phú Quốc là sự hiện diện của loài động vật quý hiếm gồm Dugong (bò biển), rùa biển và cá heo. Đây là những loài đã được các tổ chức quốc tế, Chính phủ Việt Nam đưa vào Sách đỏ và bảo vệ nghiêm ngặt.

Để phát triển mạng lưới khu bảo tồn biển tại Việt Nam một cách bền vững thì trong thời gian tới cần tập trung vào một số nội dung sau:

- Phải xây dựng các cơ chế, chính sách bảo đảm phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành và địa phương ven biển; có sự phân công, phân cấp rõ ràng trong quản lý các khu bảo tồn biển. Xây dựng cơ chế, chính sách phối hợp trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ phối hợp về quản lý các khu bảo tồn biển giữa các Bộ, ngành và địa phương, nhằm giải quyết được những chống chéo, trùng lắp hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Sớm thành lập đầy đủ Ban quản lý của 16 khu bảo tồn biển của cả nước, để tạo ra sự thông suốt trong quản lý từ Trung ương đến địa phương.

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu về lĩnh vực biển đảo; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quản lý khu bảo tồn biển; lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển và phân vùng sử dụng biển đi đôi với rà soát, điều chỉnh quy hoạch các khu bảo tồn; Tập huấn cho cán bộ và cộng đồng dân cư tại các địa phương có khu bảo tồn biển về kiến thức cơ bản liên quan.

- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý các khu bảo tồn biển. Nghiên cứu xây dựng một số cơ chế chính sách mang tính khuyến khích và để quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam gắn với khai thác hiệu quả các giá trị của chúng nhằm phát triển kinh tế xanh trong khu bảo tồn biển.

- Phát triển mô hình quản lý cộng đồng do cộng đồng dân cư địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia xây dựng và quản lý khu bảo tồn biển, nhằm khai thác, sử dụng các khu bảo tồn biển có hiệu quả, tạo sinh kế cho cộng đồng dân cư, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc điều tra, lập kế hoạch quản lý các khu bảo tồn biển; trước hết là hợp tác với các tổ chức quốc tế đang hoạt dộng ở Việt Nam; mở rộng hợp tác với các nước láng giềng để trao đổi kinh nghiệm về quản lý và bảo vệ các khu bảo tồn biển. Nghiên cứu khả năng xây dựng khu bảo tồn biển liên quốc gia và khu dự trữ sinh quyển trong vùng biển.

- Tham gia tích cực mạng lưới khu bảo tồn biển khu vực và toàn cầu, củng cố và phát triển mạng lưới quốc gia về khu bảo tồn biển đảm bảo đến năm 2020 khoảng 3% diện tích vùng biển VN được bảo tồn và 30% diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt.

Đình Tường

 
dịch vụ chuyển nhà trọn gói đà nẵng, chuyen nha tron goi, binh cuu hoa