Home Tin tiêu điểm

Tin tiêu điểm

Có thể tăng cường nguồn nước phục vụ cho bán đảo cam lập (cam ranh)

Email In PDF.

TRAO ĐỔI

Có thể tăng cường nguồn nước

phục vụ cho bán đảo cam lập (cam ranh)

Phạm Văn Thơm

Tại bán đảo Cam Lập (còn được gọi là bán đảo Sộp), nguồn nước ngầm chỉ tạm đủ để phục vụ cho sinh hoạt của một vài cụm dân cư ở địa phương. Riêng các dịch vụ du lịch có sử dụng một lượng nước mặt (sông Nước Ngọt) và nước ngầm nhưng còn giới hạn về số lượng và thời gian. Do vậy, phần lớn nước phục vụ cho du lịch đều được chở từ thị xã Cam Ranh ra với chi phí rất cao. Trong khi đó, bán đảo Sộp với địa hình khá đặc biệt có tiềm năng nước mặt khá lớn chưa được quan tâm khảo sát, nghiên cứu đưa vào khai thác, sử dụng.

Thật vậy, trên bán đảo Sộp có hai lưu vực A và B có diện tích lần lượt là 2,2 km2 và 1,3 km2, tại các nơi này có các vị trí có thể xây được đập chắn (là các đường màu nâu trên hình 1) giữ lại những lượng nước khá lớn. Mặc dù thị xã Cam Ranh là nơi có lượng mưa vào loại thấp nhất tỉnh Khánh Hòa, nhưng chỉ với lượng mưa khoảng 1000 mm/năm, hồ ở lưu vực A có thể chứa trên 2 triệu m3 nước và hồ ở lưu vực B có thể chứa trên 1 triệu m3 nước .

Hình 1: Các lưu vực trên bán đảo Cam Lập và các vị trí có thể xây đập để làm

hồ chứa nước

Lượng nước trên 3 triệu m3/năm này có thể đáp ứng được nhu cầu nước sinh hoạt cho các cụm dân cư còn đang thiếu nước sinh hoạt và các hoạt động du lịch ở cả hai bờ đông và tây của bán đảo, từ đó có thể thúc đẩy nhanh sự phát triển du lịch của thị xã Cam Ranh. Mặt khác, khi xem xét chi tiết địa hình của bán đảo, người ta thấy sự hình thành các hồ chứa này cũng không cản trở hoàn toàn các dòng chảy mặt hiện đang đổ vào phần trong và phần ngoài của vịnh Cam Ranh. Ngoài ra, do địa hình các lưu vực này khá dốc nên diện tích của hồ chứa sẽ không lớn, không làm thay đổi nhiều độ phủ của thực vật trên bán đảo. Ngoài việc cung ứng nguồn nước phục vụ sinh hoạt và du lịch, các hồ chứa còn tạo ra các mặt nước mát mẻ có thể sử dụng trong các dịch vụ du lịch, làm phong phú thêm các loại hình du lịch trên bán đảo.

Hình 2: Khu vực có tiềm năng phát triển cảng nhỏ và khu dân cư

Các dẫn liệu trình bày trên đây cho thấy sự cần thiết phải có sự khảo sát chi tiết của các chuyên gia về thủy lợi và xây dựng để tư vấn cho tỉnh Khánh Hòa việc xây dựng các hồ chứa. Điều này sẽ giúp ích cho việc phát triển kinh tế xã hội của bán đảo Sộp, từ đó có thể dẫn đến sự phát triển đường giao thông, tạo tiền đề cho việc quy hoạch xây dụng các cảng nhỏ ở bờ tây bán đảo, nơi mà địa hình tự nhiên của đáy biển không đòi hỏi việc nạo vét, một hoạt động có thể gây ra nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến việc đổ bùn nạo vét. Hình 2 minh họa một khu vực có thể phát triển khu dân cư và xây dựng cảng nhỏ.

P.V.T

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 05 Tháng 1 2011 14:29 )
 

Vài nhận định bước đầu về dòng rút ở vùng biển ven bờ khu vực Bãi Dài - Cam Ranh

Email In PDF.

Bài viết này tổng quan vài khái niệm về dòng rút (rip current) h trợ việc phòng tránh và cứu hộ ở các bãi tắm ven biển, đồng thời nhận định bước đầu về vị trí xuất hiện của dòng rút ở Bãi Dài - Cam Ranh dựa trên phân tích dữ liệu ảnh máy bay hiện có kết hợp xử lý bản đồ độ sâu vùng nước nông ven bờ ở khu vực này.

Vài khái niệm về dòng rút

Dòng rút được xem là một trong những mối nguy hiểm hàng đầu ở các bãi tắm ven biển. Sự tồn tại của dòng rút liên quan trước hết với kiểu đổ nhào của sóng: Sự không đồng nhất của năng lượng sóng gió đã tạo ra các vùng hội tụ và phân kỳ sóng cũng như các vùng có mực nước cao và mực nước thấp khác nhau. Mực nước thường dâng cao ở vùng lân cận đới sóng đổ nhào, tạo ra một sự mất cân bằng nước, làm phát sinh một dòng chảy từ bờ rút ra khơi (dòng rút). Địa hình bãi biển cũng là một tác nhân góp phần tạo ra dòng rút: a) mực nước ở trên bar cát ở vùng nước nông thường cao hơn so với các trũng, rãnh vì chúng là nơi tập trung năng lượng sóng; b) sự hình thành của các bar cát liền kề nằm song song với bờ với các trũng sâu ở giữa là yếu tố địa hình cơ bản tạo ra sự khác biệt cục bộ của dòng chảy ven bờ và kích thích cho sự vận chuyển nước chảy thẳng góc (hoặc hơi chếch) từ bờ ra xa (hình 1).

Dòng rút hình thành rất gần bờ, có thể nhận dạng bằng mắt thường thấy vùng sóng bạc đầu là vùng nước nông trên các bar cát nước chảy vào, trong lúc đó vùng lặng sóng ở giữa là vùng nguy hiểm, là nơi xuất hiện dòng rút (hình 2). Sự hình thành bãi cát dạng răng cưa (cuspate shape) cũng là một dấu hiệu nhận dạng vị trí xuất hiện của dòng rút, nó thường xuất hiện tại các vùng lõm ở các bãi dạng này.


Hình 1: Các thành phần cơ bản của dòng rút: dòng chảy vào do sóng (1); vùng phát sinh dòng rút (2 ); thân dòng rút (3); đầu dòng rút (4)

Ngoài ra, một số học giả đã thảo luận về mối liên quan của sự hình thành dòng rút với một số yếu tố động lực:

- Sóng lừng (swell) tuy không tạo sóng bạc đầu nhưng cũng gây ra dòng rút ở các vùng có các công trình biển như kè ngang, cầu tàu hoặc các bãi tắm dạng túi (pocket beach) kẹp giữa các mũi đất.

- Dòng rút thường không xuất hiện vào sáng sớm hoặc ban chiều khi gió biển bắt đầu hình thành hoặc suy yếu, mà thường xuất hiện với tần suất cao và cường độ mạnh vào ban trưa khi gió đất thổi mạnh từ bờ ra khơi.

- Dòng rút liên quan chặt chẽ với đặc điểm thủy triều, chúng xảy ra với tần suất cao và cường độ mạnh vào các thời đoạn mực nước triều thấp và ít hơn nhiều với cường độ yếu vào các thời đoạn mực nước triều cao.


Hình 2: Một số dấu hiệu nhận biết các vị trí có thể xuất hiện dòng rút: vùng lặng sóng giữa các vùng sóng bạc đầu xung quanh; bãi tắm dạng răng cưa; dòng rút xuất hiện rõ với chân, thân và phần đầu rõ rệt (thường thành từng nhóm

Vài nhận định bước đầu về dòng rút ở Bãi Dài - Cam Ranh

Dựa trên tư liệu ảnh máy bay chụp ngày 21 tháng 2 năm 2004 có thể đưa ra vài nhận định bước đầu về địa hình vùng Bãi Dài và sự xuất hiện của dòng rút ở khu vực này. Về mặt địa hình bãi và đáy biển, kết quả xử lý ảnh máy bay (hình 3) cho thấy những nét đặc điểm hình thái chính như sau:

- Địa hình Bãi Dài có dạng răng cưa với nhiều doi cát và vùng lõm phân bố đều, nằm xen kẽ nhau.

- Phần ngập nước có các hệ thống rãnh sâu chạy thẳng góc với bờ (được gặp trên suốt đoạn bờ của Bãi Dài).

Do đó dòng rút có thể xuất hiện ở mọi nơi dọc đoạn bờ này. Tuy nhiên sự tồn tại của hệ thống bar cát ven bờ không liên tục có thể là yếu tố quyết định cho sự hình thành dòng rút nên dòng rút chỉ được ghi nhận trong khoảng tọa độ 109o11’50”- 109o12’00”; 12o04’20”- 12o04’40” (đoạn bãi số 3 ở hình 4). Ba dòng rút được ghi nhận có cường độ mạnh dần xuống phía Nam, đây là nơi duy nhất có hệ thống bar ngầm và cửa thoát (rộng khoảng 40m) tạo điều kiện thuận lợi cho dòng rút hình thành.

Hình 3: Hình thái địa hình bãi Dài

(kết quả xử lý ảnh máy bay chụp ngày 21/02/2004)


Hình 4: Địa hình đáy vùng ven bờ bãi Dài – Cam Ranh trên 4 đoạn bờ khác nhau



Hình 4: Địa hình đáy vùng ven bờ bãi Dài – Cam Ranh trên 4 đoạn bờ khác nhau (tiếp theo)

Việc phóng đại ảnh máy bay và địa hình ngầm ở khu vực này (hình 5) cho ta thấy rõ hơn hình thái địa hình chi tiết ở khu vực xuất hiện dòng rút, đồng thời thể hiện rõ hơn cơ chế hình thành hệ thống dòng rút ở vùng tồn tại các bar cát ngầm và các cửa rút (rip gap).

Hình 5: Vị trí của hệ thống dòng rút xuất hiện ở Bãi Dài - Cam Ranh vào ngày 21 tháng 2 năm 2004 (nơi tồn tại các bar cát ngầm cửa thoát nằm trùng với các rảnh sâu chạy thẳng góc với bờ)

Một số nhận xét

- Dòng rút thường xuất hiện ở các bãi tắm hình răng cưa kết hợp với sự tồn tại hệ thống bar cát ngầm không liên tục (có cửa thoát) ở vùng nước nông ven bờ biển, chúng nằm song song với bờ trùng với vị trí của các trũng sâu nằm thẳng góc với bờ.

- Một số vị trí có dòng rút xuất hiện ở Bãi Dài - Cam Ranh đã được xác định bước đầu thông qua kết quả phân tích ảnh máy bay chụp ngày 21 tháng 4 năm 2004 trong khoảng tọa độ 109o11’50”- 109o12’00” và 12o04’20”- 12o04’40”(Ảnh vệ tinh trên Google Earth chụp ngày 2/01/2010 cũng cho thấy một dòng rút xuất hiện trong khu vực này).

- Chưa có các thông tin về dòng rút trong mùa gió tây nam.

Để có những nhận định chính xác hơn về vị trí, cường độ dòng rút trong từng thời kỳ khác nhau (liên quan với các đặc điểm sóng, gió, thủy triều, địa hình) cần có những nghiên cứu bổ sung về điều kiện sóng, gió, thủy triều, dòng dọc bờ và cả các khảo sát chi tiết địa hình trong từng thời kỳ khác nhau. Để hỗ trợ các nghiên cứu này cần có một hệ thống camera tự động hoặc thủ công được thiết kế và đặt ở một vị trí tương đối cao (khoảng 100 – 120m so mặt nước biển) có thể giúp quét và chụp ảnh thường xuyên toàn khu vực, nó cho phép giám sát thường kỳ nhằm bắt gặp vị trí của dòng rút trong mối liên quan với các đặc điểm khí hậu - khí tượng trong khu vực.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 26 Tháng 11 2010 11:01 )
 

Một số biện pháp tăng cường nguồn nước cho một số khu vực ven biển, Hải đảo trong vịnh Vân Phong

Email In PDF.

Lưu vực các suối trên Hòn Lớn và bán đảo Hòn Gốm (phác thảo ranh giới vẽ màu xanh)

Đối với tỉnh Khánh Hòa, một trong số các vấn đề đáng quan tâm nhất trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu có lẽ là nạn hạn hán dẫn đến thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các khu vực ven biển và hải đảo có tiềm năng phát triển kinh tế nhưng việc cấp nước lại đang gặp rất nhiều khó khăn. Trong thực tế, một số trong các khu vực này có nguồn nước ngầm được dự đoán là khá phong phú (như bán đảo Hòn Gốm và bán đảo Cam Ranh) nhưng hiện nay chưa được thăm dò, đánh giá đầy đủ và chưa được phép khai thác.

Một số nơi khác có tiềm năng khá lớn về nước mặt nhưng nguồn nước này cũng chưa được đánh giá và chưa có biện pháp khai thác hiệu quả. Thí dụ như trong vịnh Vân Phong, phần lớn các dự án du lịch triển khai trên Hòn Lớn hầu như phải dựa vào nguồn nước chở từ đất liền.

Để góp phần vào việc tìm ra các biện pháp hợp lý giải quyết nhu cầu cấp nước phục vụ phát triển kinh tế ở khu vực này, phần dưới đây giới thiệu một số thông tin liên quan đến các nguồn nước mặt trên Hòn Lớn và phần phía Nam bán đảo Hòn Gốm.

Các khu vực có nguồn nước mặt có thể khai thác

Trên đảo Hòn Lớn có một số con suối nhận nước từ các lưu vực khá rộng và một số thường xuyên có nước:

- Suối đổ vào Bãi Tranh (phía Bắc đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 200 m, lưu vực rộng khoảng 6,5 km2 (số 1 trong hình 1); tại đây có khá đông dân cư sinh sống dựa vào nguồn nước này.

- Suối trong lưu vực đánh số 2 trên hình 1, lưu vực này rộng 3,3 km2, nguồn nước này chưa được sử dụng.

- Suối trong lưu vực rộng 3,8 km2 (số 3 trên hình 1), nguồn nước này cũng gần như chưa được sử dụng.

- Suối đổ vào Bãi Nhàu (phía Đông đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m, lưu vực (đánh số 4 trong hình 1) rộng khoảng 3,4 km2; nguồn nước này hầu như chưa được khai thác, sử dụng nhiều.

- Suối đổ vào Bãi Giầm (phía Tây Nam đảo) bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m, lưu vực (đánh số 5 trong hình 1) rộng khoảng 2,4 km2; khu du lịch Lucky Land có dự kiến sử dụng nguồn nước này.

Ở phần phía Nam của bán đảo Hòn Gốm có hai con suối bắt nguồn từ độ cao khoảng 300 m đổ vào khu vực Khải Lương và Bãi Giông (phía Tây Nam bán đảo):

- Suối đổ vào Khải Lương có lưu vực (đánh ký hiệu A trong hình 1) rộng khoảng 1km2; nguồn nước này đang được dân cư ở thôn Khải Lương sử dụng trong sinh hoạt.

- Suối đổ vào Bãi Giông có lưu vực (đánh ký hiệu B trong hình 1) rộng khoảng 2 km2.

Với lượng mưa trung bình năm hơn 1.000 mm, tổng lượng dòng chảy từ các lưu vực nói trên lần lượt là 6.500.000 m3, 3.300.000 m3, 3.800.000 m3, 3.400.000 m3, 2.400.000 m3, 1.000.000 m3 và 2.000.000 m3. Nguồn nước tại phía Nam bán đảo Hòn Gốm (từ lưu vực B) tuy không lớn lắm nhưng cũng có thể đầu tư khai thác phục vụ cho khu vực này, nơi mà việc xây dựng hệ thống cấp nước hầu như không khả thi. Với lượng dòng chảy hơn 19.000.000 m3 tại Hòn Lớn, nếu có biện pháp khai thác hợp lý có thể cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và cho các ngành kinh tế trên đảo; trong trường hợp cần thiết, nước từ lưu vực 4 còn có thể cung cấp cho phần phía Nam bán đảo Hòn Gốm với chi phí chuyên chở thấp hơn nhiều so với hiện nay (vận chuyển đường biển khoảng 3 km).

Một số biện pháp tăng cường dự trữ nước

Để tăng cường khả năng dự trữ nước, chúng ta có thể thực hiện các biện pháp sau đây:

a) Xây các hồ chứa trên phần đầu nguồn của các suối trên đảo Hòn Lớn trong phạm vi các lưu vực 2 và 3.

b) Xây các đập ở phần cuối các con suối ở Bãi Tranh (Hình 2), Bãi Nhàu (Hình 3), Bãi Giầm (Hình 4) và Bãi Giông (Hình 5); các đập chắn này được liên kết với các tường chắn trên bãi (ở trên đới tác động của sóng) để giữ nước ngọt trong các bãi cát ở khu vực cửa các suối để giảm thiểu đến mức tối đa việc thoát nước ngọt vào biển. Thí dụ về đập và tường chắn được minh họa ở hình 3, khu vực Bãi Nhàu: Lượng nước được dự trữ trong hồ và trong cát ở khu vực Bãi Nhàu có thể lên hơn 10.000 m3 và có thể tăng lên nếu các dự án có thực hiện việc tôn nền. Điều thuận lợi là nền móng ở các khu vực này thường là các thềm biển cấu tạo bởi đá có xi măng carbonate. Khả năng chống thấm của loại vật liệu này khá tốt, có thể đáp ứng yêu cầu lưu giữ nước. Chiều dài của các tường chắn này được ước tính như sau: khoảng 600 m ở Bãi Tranh, 150 m ở Bãi Nhàu, 550 m ở Bãi Giầm và 170 m ở Bãi Giông. Khả năng chứa nước ở khu vực này thay đổi theo độ cao của đập và tường chắn.

Trên đây là những điều trình bày chỉ mang tính gợi ý và định hướng. Với nhu cầu lớn và cấp bách của việc cấp nước phục vụ phát triển kinh tế cho các khu vực ven biển và hải đảo trong vịnh Vân Phong thì rất cần có các nghiên cứu chi tiết hơn để có được các quy hoạch khai thác nguồn nước mặt một cách hợp lý và hiệu quả./.

Một số hình ảnh chụp từ vệ tinh:

Bãi Tranh

Bãi Nhàu

Bãi Giầm

Bãi Giông






Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 09 Tháng 8 2010 09:09 )
 
M88